#nganhang
Thanh Thảo @Echxanh_gb · 6 giờ

Techcombank làm ăn tốt thật! Lợi nhuận Quý 2 lập kỷ lục mới

Chiều muộn 21/7, Techcombank vừa ra báo cáo tài chính quý 2/2026. Các chỉ tiêu kinh doanh cho thấy nhà bằng này làm ăn tốt thật!

  • Lợi nhuận trước thuế quý 2 đạt 9.670 tỷ đồng, tăng trưởng 22,4%. Con số này cao nhất trong 1 quý từ 2023 đến nay.
  • Lợi nhuận trước thuế 6 tháng đạt 18.500 tỷ đồng, tăng trưởng 22,5%.
  • Kế hoạch trước đó của Techcombank trong kịch bản xấu thì năm 2026 đạt khoảng 35.000 tỷ lợi nhuận, theo kịch bản này thì Techcombank hoàn thành được 53%; còn theo kịch bản thuận lợi thì đạt khoảng 37.500 tỷ đồng, theo kịch bản này thì Techcombank đã hoàn thành gần 50%.#techcombank #nganhang
Xem thêm
1
Kiều Kiều @kieukieu · 6 ngày

Nghiên cứu của Dat Xanh Services: Lãi vay mua nhà chạm ngưỡng 16%, thị trường BĐS từ nay đến cuối năm gặp khó

Lãi suất tăng cao, giao dịch giảm mạnh

Điểm đáng chú ý của báo cao nghiên cứu thị trường này là yếu tố lãi suất vay mua nhà phổ biến trong 6 tháng đầu năm là 12 - 14%/năm. Đáng chú ý, một số khoản vay thả nổi ghi nhận mức thực tế lên đến 15 - 16%/năm.

Áp lực lãi suất đã tác động trực tiếp đến thị trường. Ghi nhận thực tế thanh khoản của thị trường BĐS giảm sâu tới 62%

Tỉ lệ hấp thụ chung trên toàn thị trường dao động ở mức 20 - 30%, giảm 30 điểm % so với giai đoạn cuối năm ngoái.

BĐS thanh khoản được chủ yếu ở sẩn phẩm tạo ra dòng tiền. Các sản phẩm đầu tư vùng ven gần như “đóng băng” giao dịch.

Lãi vay cao đang tác động trực tiếp đến quyết định xuống tiền của người mua nhà do lo ngại chi phí tài chính ngày càng lớn, trong khi các chủ đầu tư cũng đối mặt với bài toán tiêu thụ sản phẩm ngày càng khó khăn.

Nhóm nhà đầu tư đang tạm thời đứng ngoài thị trường

Mặc dù lãi suất ưu đãi tại các nhà bằng hiện phổ biến dao động từ 9-11%/năm nhưng sau khi hết ưu đãi chuyển sang cơ chế thả nổi sẽ cộng thêm từ  3-3,5%.

Các ngân hàng đang áp dụng mức nào?

Tại nhóm ngân hàng quốc doanh, Vietcombank đang áp dụng lãi suất 9,6%/năm trong 6 tháng đầu hoặc 10,5%/năm nếu cố định trong 12 tháng. BIDV triển khai các gói vay từ 9,7-13,5%/năm tùy thời gian cố định lãi suất.

VietinBank đã điều chỉnh lãi suất các gói vay mua nhà cố định 24 tháng lên trên 12%/năm, trong khi Agribank vẫn duy trì mức thấp hơn, khoảng 8-9,8%/năm.

Ở nhóm ngân hàng thương mại cổ phần, mức lãi suất ưu đãi ban đầu nhìn chung dao động từ 9-12%/năm.

Với mặt bằng lãi suất trên, Thị trường nửa cuối năm 2026 sẽ ra sao?

Theo các chuyên gia Dat Xanh FERI, áp lực lãi vay đã làm thay đổi hoàn toàn hành vi của người mua nhà. Khảo sát của đơn vị này cho thấy thay vì kỳ vọng lướt sóng ngắn hạn, người mua hiện ưu tiên các sản phẩm có pháp lý minh bạch (tỉ lệ ưu tiên 96,9%) và vị trí kết nối tốt.

Đáng chú ý, thị trường đang chứng kiến sự dịch chuyển từ việc sử dụng đòn bẩy tài chính sang ưu tiên nguồn vốn tự có nhằm giảm bớt rủi ro chi phí lãi vay.

Dự báo về thị trường nửa cuối năm 2026, các chuyên gia Dat Xanh FERI nhận định lãi suất vay mua nhà khó có thể giảm nhanh và vẫn sẽ duy trì ở mức cao từ 12% - 14%/năm. Thị trường sẽ bước sâu hơn vào giai đoạn “từ phân hóa đến chọn lọc”.

Bạn đang theo dõi mặt bằng lãi suất vay mua nhà ở ngân hàng nào? Comment bên dưới nhé!

#DatXanhServices #LaiVayMuaNha #NganHang #ThanhKhoanBatDongSan #ThiTruongBds

Xem thêm
3 2
Kiều Kiều @kieukieu · 02/07/2026

Lãi suất huy động ngân hàng hôm nay 2/7/2026: Kỳ hạn 24 tháng lên 7%

Lãi suất huy động tại 26 ngân hàng hôm nay (2/7/2026) tiếp tục phân hóa rõ giữa kỳ hạn ngắn và dài. Ở nhóm 12-24 tháng, nhiều ngân hàng niêm yết từ 6%/năm trở lên, cao nhất đạt 7%/năm.

Mặt bằng lãi suất đang chia khá rõ theo kỳ hạn

Khảo sát cho thấy lãi suất tại quầy không kỳ hạn phổ biến chỉ từ 0,05-0,50%/năm. Trong khi đó, các kỳ hạn từ 12 tháng trở lên đang là nhóm có mức hấp dẫn hơn rõ rệt.

Không kỳ hạn: thấp nhất 0,05%/năm, cao nhất 0,50%/năm

MB Bank áp dụng mức thấp nhất 0,05%/năm. Ở chiều ngược lại, Bac A Bank và KienlongBank cùng niêm yết mức cao nhất 0,50%/năm.

Một số ngân hàng như MSB, ACB, OCB, PGBank, SHB, VPBank... không công bố lãi suất ở kỳ hạn này trong bảng khảo sát.

Kỳ hạn 1-3 tháng: chủ yếu từ 2,1-4,75%/năm

Với kỳ hạn ngắn 1-3 tháng, mặt bằng lãi suất vẫn còn khá thấp, dao động chủ yếu trong khoảng 2,1-4,75%/năm.

Nhóm ngân hàng quốc doanh gồm Agribank, BIDV, Vietcombank và VietinBank tiếp tục duy trì mức thấp hơn mặt bằng chung. Trong khi đó, nhiều ngân hàng thương mại cổ phần như OCB, PGBank, BVBank, VPBank hay VietABank niêm yết từ 4,5%/năm trở lên.

Kỳ hạn 6-9 tháng: nhiều ngân hàng đã vượt 6%/năm

Ở kỳ hạn 6-9 tháng, lãi suất bắt đầu tăng rõ rệt. Nhiều ngân hàng đã đưa mức huy động lên trên 6%/năm.

Bac A Bank niêm yết 6,85%/năm ở cả hai kỳ hạn này. PGBank đạt 6,60%/năm; OCB 6,40%/năm; LPBank và Sacombank cùng 6,20%/năm; BVBank 6,45%/năm.

Trong khi đó, nhóm ngân hàng quốc doanh vẫn duy trì mức 3,5-4%/năm.

Kỳ hạn 12 tháng: Bac A Bank dẫn đầu khảo sát

Đến kỳ hạn 12 tháng, mặt bằng lãi suất tiếp tục cải thiện. Bac A Bank đứng đầu với 6,90%/năm.

Tiếp theo là OCB và PGBank cùng 6,70%/năm, BVBank 6,65%/năm, LPBank và Vietbank lần lượt đạt 6,30%6,20%/năm.

MB Bank, SHB, Vietcombank, VietinBank và BIDV cùng niêm yết trong khoảng 5,9-6,2%/năm.

Kỳ hạn 18-24 tháng: cao nhất 7%/năm

Ở các kỳ hạn dài 18-24 tháng, nhiều ngân hàng tiếp tục duy trì mức trên 6%/năm nhằm thu hút nguồn vốn dài hạn.

Trong khảo sát này, MB Bank là ngân hàng có mức cao nhất với 7%/năm ở kỳ hạn 24 tháng.

Sau đó là OCB và PGBank cùng 6,80%/năm, Bac A Bank 6,75%/năm, Sacombank 6,70%/năm, LPBank 6,60%/năm, SHB và Vietbank cùng 6,40-6,50%/năm.

Điểm đáng chú ý là gì?

Bức tranh chung cho thấy khoảng cách giữa kỳ hạn ngắn và dài vẫn khá lớn. Mức lãi suất trên 6%/năm chủ yếu tập trung ở các khoản tiền gửi từ 12 tháng trở lên, trong khi các kỳ hạn dưới 6 tháng vẫn phổ biến dưới 5%/năm.

Bạn đang quan tâm kỳ hạn gửi nào? Comment bên dưới nhé!

#BacABank #KyHan24Thang #LaiSuatHuyDong #MbBank #NganHang

Xem thêm
Minh Tú BĐS @minhtubds · 18/06/2026

Bất động sản hút vốn ngàn tỷ qua trái phiếu riêng lẻ trong tháng 5

Bất động sản tiếp tục là điểm hút vốn trên thị trường trái phiếu riêng lẻ tháng 5, với nhiều thương vụ quy mô ngàn tỷ đồng. Trong khi đó, ngân hàng vẫn dẫn dắt thị trường khi chiếm gần 60% tổng lượng phát hành.

Tháng 5: hơn 50 ngàn tỷ đồng trái phiếu riêng lẻ được phát hành

Theo dữ liệu từ HNX, hơn 50 ngàn tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ đã được phát hành trong tháng 5, tăng khoảng 20% so với tháng trước. Dù vậy, quy mô này vẫn thấp hơn cùng kỳ năm ngoái.

Dòng vốn tiếp tục tập trung vào hai nhóm quen thuộc là ngân hàngbất động sản. Nếu xét từng thương vụ riêng lẻ, các khoản huy động lớn nhất tháng chủ yếu thuộc về doanh nghiệp địa ốc.

Vinhomes dẫn đầu với 9 ngàn tỷ đồng

Vinhomes (HOSE: VHM) đứng đầu thị trường khi phát hành thành công 5 lô trái phiếu với tổng giá trị 9 ngàn tỷ đồng. Các lô đều có kỳ hạn 36 tháng và áp dụng lãi suất kết hợp, khởi điểm từ 12.5%/năm.

Đây là lần huy động lớn thứ hai liên tiếp của Vinhomes trong năm nay. Trước đó vào tháng 4, doanh nghiệp họ Vingroup đã thu về 6 ngàn tỷ đồng. Như vậy sau 5 tháng đầu năm, tổng giá trị trái phiếu riêng lẻ mà Vinhomes phát hành đạt 15 ngàn tỷ đồng, tương đương gần 80% cả năm 2025 và tiến sát quy mô hơn 20 ngàn tỷ đồng của năm 2024.

Một doanh nghiệp khác trong hệ sinh thái Vinhomes là Công ty TNHH Đầu tư Xây dựng Thái Sơn cũng huy động thêm 6 ngàn tỷ đồng qua 3 lô trái phiếu kỳ hạn 36 tháng, lãi suất cố định 12.5%/năm. Theo phương án sử dụng vốn công bố, một phần nguồn tiền sẽ được dùng để cơ cấu lại các khoản nợ hiện hữu.

Những cái tên đáng chú ý khác trong bất động sản

Thị trường tháng 5 còn ghi nhận sự xuất hiện của Công ty TNHH Lạc Việt Quy Nhơn với lô trái phiếu 200 tỷ đồng, lãi suất cố định 12.5%/năm. Doanh nghiệp này là chủ đầu tư Khu đô thị cửa ngõ Cát Tiến tại Gia Lai và thuộc Tập đoàn Lạc Việt.

Trong khi đó, Phát triển Bất động sản Văn Phú (HOSE: VPI) phát hành lô trái phiếu 180 tỷ đồng kỳ hạn 3 năm với lãi suất 11.5%/năm, cao hơn mức 10.5%/năm của lô có cùng kỳ hạn được đưa ra thị trường một năm trước.

Không chỉ bất động sản: nhiều ngành vẫn hút vốn

Ở nhóm khác, Công ty TNHH Đầu tư SCommerce huy động 580 tỷ đồng qua trái phiếu kỳ hạn 7 năm nhưng lãi suất chỉ 6.7%/năm, thấp hơn đáng kể mặt bằng chung. Đợt phát hành được Quỹ bảo lãnh tín dụng đầu tư CGIF, quỹ tín thác thuộc ADB, bảo lãnh thanh toán.

Nguồn vốn thu được sẽ được Đầu tư SCommerce sử dụng để xây dựng trung tâm phân loại hàng hóa tại Tây Ninh, dự kiến trở thành đầu mối logistics quan trọng trong mạng lưới vận hành của Giao Hàng Nhanh tại khu vực phía Nam.

Ở nhóm năng lượng tái tạo, CTCP Năng lượng Tái tạo Trung Nam phát hành 2 lô trái phiếu với tổng giá trị hơn 2.1 ngàn tỷ đồng. Riêng lô lớn nhất gần 2 ngàn tỷ đồng được sử dụng chủ yếu để nhận chuyển nhượng cổ phần tại CTCP Điện gió Trung Nam Trà Vinh 1.

Ngân hàng vẫn là lực lượng dẫn dắt thị trường

Dù bất động sản xuất hiện nhiều thương vụ quy mô lớn, ngân hàng vẫn là nhóm dẫn dắt thị trường. Tổng giá trị huy động của nhóm này đạt khoảng 30 ngàn tỷ đồng, tương đương chiếm 60% và tăng mạnh so với mức hơn 17 ngàn tỷ đồng của tháng trước. Đáng chú ý, mặt bằng lãi suất phát hành tiếp tục cao hơn đáng kể so với cùng giai đoạn năm ngoái.

Ngân hàng TMCP Quân đội (HOSE: MBB) là tổ chức phát hành lớn nhất khi thực hiện 9 đợt chào bán với tổng quy mô hơn 9 ngàn tỷ đồng. Phần lớn là các lô kỳ hạn 10 năm với lãi suất 8.2-8.3%/năm, cao hơn đáng kể mức 6.2-6.4%/năm ghi nhận cùng kỳ năm trước.

Techcombank (HOSE: TCB) theo sau với 8 ngàn tỷ đồng qua 4 lô trái phiếu kỳ hạn 2-3 năm. Lãi suất cố định 8.4%/năm, thấp hơn đôi chút so với tháng 4 nhưng vẫn cao hơn nhiều so với khoảng 5.1%/năm của các lô phát hành cùng kỳ năm ngoái. Chỉ sau 2 tháng, Techcombank đã huy động 16 ngàn tỷ đồng từ kênh trái phiếu riêng lẻ.

OCB mang về 3 ngàn tỷ đồng với lãi suất 8.5-8.6%/năm. Cùng kỳ năm ngoái, các lô tương tự của nhà băng này chỉ quanh 5.1-5.4%/năm. MSB thu xếp thành công 3 ngàn tỷ đồng, trong khi Bac A Bank phát hành 5 ngàn tỷ đồng với lãi suất phổ biến 8.4-8.6%/năm. BIDV cũng quay lại thị trường với các lô trái phiếu kỳ hạn dài từ 6-15 năm, lãi suất dao động 7.7-8.1%/năm.

Home Credit Việt Nam trở lại

Nhóm tài chính tiêu dùng ghi nhận sự trở lại của Home Credit Việt Nam với 2 lô trái phiếu tổng giá trị 1.15 ngàn tỷ đồng, kỳ hạn 3 năm và lãi suất cố định 9.8%/năm. Mức này cao hơn đáng kể so với mặt bằng khoảng 6.8%/năm mà doanh nghiệp áp dụng trong phần lớn các đợt phát hành năm 2025.

Công ty Tài chính Tổng hợp Cổ phần Điện lực (HOSE: EVF) cũng tiếp tục huy động thêm 550 tỷ đồng qua lô trái phiếu kỳ hạn 8 năm với lãi suất cố định 8.5%/năm, sau đợt phát hành 450 tỷ đồng thực hiện hồi tháng 3.

Bạn thấy xu hướng huy động vốn qua trái phiếu riêng lẻ tháng này thế nào? Comment bên dưới nhé!

#NganHang #ThiTruongTraiPhieu #TraiPhieuDoanhNghiep #TraiPhieuRiengLe #Vinhomes

Xem thêm
An Nhiên @annhien · 15/06/2026

Lãi suất đầu vào tăng, ngân hàng trước áp lực chi phí vốn và nợ xấu

Lãi suất đầu vào đã lên mặt bằng mới, kéo theo áp lực chi phí vốn, NIM và rủi ro nợ xấu của ngân hàng. Dù vậy, Chứng khoán Shinhan vẫn dự báo lợi nhuận trước thuế toàn ngành tăng 17% năm 202616% năm 2027.

Ngân hàng vẫn tăng trưởng, nhưng biên lợi nhuận chịu sức ép

Trong báo cáo triển vọng ngành ngân hàng giai đoạn 2026 - 2027, Chứng khoán Shinhan giả định tăng trưởng tín dụng đạt 15% trong cả giai đoạn 2026 - 2027, còn biên lãi ròng (NIM) duy trì quanh mức 3,15%.

Theo kịch bản thận trọng, tỷ lệ nợ xấu có thể quay trở lại xu hướng tăng trong năm 2027 khi mặt bằng lãi suất tăng trở lại. Trên cơ sở đó, lợi nhuận trước thuế của nhóm ngân hàng niêm yết trên HOSE được dự báo tăng khoảng 17% trong năm 2026 và tiếp tục tăng 16% trong năm 2027.

Lãi suất huy động, liên ngân hàng và trái phiếu cùng tăng

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất tiền gửi tăng vào những tháng cuối năm 2025 và đầu năm 2026, kỳ hạn 6 - 12 tháng tăng 120 điểm cơ bản tính tới cuối tháng 3/2026.

Chứng khoán Shinhan cho biết các ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân trong cùng giai đoạn tăng mạnh 200 điểm cơ bản, còn các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước tăng khoảng 100 điểm cơ bản. Đây là số liệu lãi suất công bố online trên website ngân hàng, thực tế có thể cao hơn số công bố online.

Sau cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước, mức lãi suất kỳ hạn 12 tháng tại các ngân hàng đã giảm nhẹ khoảng 0,5% từ mức đỉnh. Tuy nhiên, nhiều lãnh đạo ngân hàng cho biết dư địa giảm thêm không còn nhiều cho phần còn lại của năm 2026.

Huy động phân hóa rõ giữa các nhóm ngân hàng

Chứng khoán Shinhan ghi nhận tăng trưởng tiền gửi có sự phân hóa đáng kể. Các ngân hàng có kế hoạch tăng trưởng cho vay cao như VPBank hay HDBank đã đẩy mạnh huy động tiền gửi với nhiều gói lãi suất ưu đãi, qua đó giúp tăng trưởng huy động mạnh mẽ trong quý I/2026.

Ngược lại, các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước duy trì mặt bằng lãi suất tiền gửi thấp hơn mặt bằng chung, khiến mức huy động thấp hơn trung bình ngành và tạo áp lực lên tỷ lệ LDR vào cuối quý I/2026.

Bên cạnh đó, lãi suất phát hành trái phiếu của ngân hàng cũng được nâng lên mặt bằng mới. Các đợt phát hành vào cuối quý III/2025 được ghi nhận quanh mức 6%, thì các đợt phát hành trong tháng 4/2026 hiện đã tăng lên quanh mức 8 - 9%.

Huy động giấy tờ có giá tiếp tục được đẩy mạnh tại phần lớn các ngân hàng, tổng quan cả ngành tăng trưởng 10,54% so với cuối năm 2025.

BIDV, ACB, VPBank, HDBank, NamABank hay SeABank là các ngân hàng có mức huy động giấy tờ có giá mạnh hơn trung bình toàn ngành.

Ngoài ra, lãi suất liên ngân hàng sau giai đoạn biến động mạnh vào các phiên trước Tết do tính mùa vụ đã ổn định trở lại và giao dịch quanh vùng 5 - 6% trong tháng 4 - 5/2026. Tuy nhiên, thị trường vẫn xuất hiện những biến động bất ngờ khi lãi suất có thời điểm tăng vọt lên khoảng 11% vào đầu tháng 6/2026.

Chi phí vốn tăng, NIM bị nén

Theo Chứng khoán Shinhan, chi phí vốn tăng đã nhanh chóng phản ánh vào báo cáo tài chính của các ngân hàng, trong khi lãi suất cho vay đầu ra chưa tăng tương ứng. Xu hướng này đang gây áp lực lên NIM của nhiều ngân hàng trong quý I/2026.

Tại các cuộc họp nhà đầu tư, ban lãnh đạo hầu hết ngân hàng đều nhận định NIM sẽ tiếp tục gặp áp lực trong năm 2026 và có thể giảm nhẹ.

Nhóm phân tích Chứng khoán Shinhan nhận định: “Với mặt bằng lãi suất tăng, các ngân hàng sẽ càng phải cạnh tranh nhau trong phần còn lại của năm, đặc biệt là các ngân hàng có mức tăng trưởng huy động tiền gửi âm trong quý I/2026”.

Nợ xấu và nợ nhóm 2: điểm cần theo dõi sát

Sau giai đoạn xử lý nợ xấu vào cuối năm, tỷ lệ nợ xấu của toàn ngành tăng nhẹ cuối quý I/2026 nhưng nếu so với mốc quý III/2025, tỷ lệ nợ xấu đi ngang và ở mức 1,9%.

Trong giai đoạn này, Sacombank có sự gia tăng mạnh về ghi nhận nợ xấu và trích lập 100% liên quan tới Bamboo Airways. Các ngân hàng còn lại nhìn chung không có quá nhiều thay đổi về tỷ lệ nợ xấu nếu so với cuối quý III/2025.

Nợ nhóm 2 tăng nhẹ trong quý I/2026, tuy vậy đây thường mang yếu tố mùa vụ sau giai đoạn xử lý tài sản thường được thực hiện mạnh mẽ vào quý IV hàng năm.

Chứng khoán Shinhan lưu ý, mặt bằng lãi suất tăng cao hơn thông thường sẽ gây áp lực lên chất lượng tài sản của toàn ngành trong các quý, năm sau đó. Vì vậy, chất lượng tài sản, đặc biệt là sự hình thành nợ nhóm 2, sẽ là yếu tố quan trọng cần theo dõi trong giai đoạn tới.

Bạn nghĩ sao về mặt bằng lãi suất và áp lực nợ xấu của ngân hàng thời gian tới? Comment bên dưới nhé!

#ChungKhoanShinhan #DuBaoLoiNhuanNganhNganHang #LaiSuat #LaiSuatPhatHanhTraiPhieu #LaiSuatTienGui #NganHang #NimNganHang #NoXauNganhNganHang #TangTruongTinDung #TrienVongNganhNganHang

Xem thêm
An Nhiên @annhien · 10/06/2026

Ngân hàng, bất động sản dẫn đầu phát hành trái phiếu 5 tháng đầu năm 2026

Ngân hàngbất động sản tiếp tục là 2 nhóm ngành dẫn đầu hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp trong 5 tháng đầu năm 2026, theo Báo cáo thị trường trái phiếu tháng 5/2026 của VBMA.

Thị trường trái phiếu Chính phủ: Kỳ hạn 5 năm áp đảo

Trong tháng 5/2026, Kho bạc Nhà nước (KBNN) tổ chức 17 phiên đấu thầu trái phiếu Chính phủ với tổng giá trị gọi thầu là 68.500 tỷ đồng, tỷ lệ trúng thầu là 49,1%.

KBNN gọi thầu các kỳ hạn 3, 5, 10, 15, 20 và 30 năm. Trong đó, kỳ hạn 5 năm chiếm 93,8% giá trị trúng thầu, đạt 15.000 tỷ đồng.

Các kỳ hạn khác gồm: 10 năm trúng thầu 18.250 tỷ đồng (tỷ lệ trúng thầu/gọi thầu đạt 39,7%), 3 năm trúng thầu 150 tỷ đồng (tỷ lệ 30%), 15 năm trúng thầu 200 tỷ đồng (tỷ lệ 5%) và 30 năm trúng thầu 30 tỷ đồng (tỷ lệ 2%). Kỳ hạn 20 năm không trúng thầu.

Kỳ hạn phát hành bình quân trong tháng 5 là 7,8 năm, lãi suất trúng thầu trung bình đạt 4,09%/năm, giảm so với mức 4,13% trong tháng 4/2026.

5 tháng đầu năm 2026 phát hành bao nhiêu?

Tổng giá trị trái phiếu Chính phủ phát hành thông qua đấu thầu trong 5 tháng đầu năm 2026 là 159.186 tỷ đồng, đạt 31,8% kế hoạch cả năm là 500.000 tỷ đồng.

Trong đó, giá trị TPCP phát hành trong tháng 4 và tháng 5 đạt 71,8% kế hoạch quý II là 110.000 tỷ đồng.

Trái phiếu doanh nghiệp: Ngân hàng và bất động sản chiếm tỷ trọng lớn

Theo dữ liệu VBMA tổng hợp từ HNX và SSC, tính đến ngày công bố thông tin 29/5/2026, có 29 đợt phát hành trái phiếu riêng lẻ trị giá 36.263 tỷ đồng4 đợt phát hành ra công chúng trị giá 3.999 tỷ đồng trong tháng 5/2026.

Trong 5 tháng đầu năm 2026, giá trị phát hành riêng lẻ trái phiếu doanh nghiệp là 107.018 tỷ đồng và giá trị phát hành ra công chúng là 20.333 tỷ đồng.

Xét theo nhóm ngành, ngân hàng chiếm 48% tổng giá trị phát hành, còn bất động sản chiếm 44%.

Điểm đáng chú ý là gì?

Con số này cho thấy dòng phát hành trái phiếu doanh nghiệp vẫn tập trung mạnh vào 2 nhóm ngành quen thuộc là ngân hàngbất động sản.

Chiều ngược lại: Mua lại trước hạn và đáo hạn

Trong tháng 5, các doanh nghiệp đã mua lại 19.780 tỷ đồng trái phiếu trước hạn, giảm 9% so với cùng kỳ năm 2025.

Trong 7 tháng còn lại của năm 2026, giá trị đáo hạn ước tính là 141.908 tỷ đồng.

Về công bố thông tin bất thường, có 2 mã trái phiếu chậm trả lãi, gốc trị giá 125 tỷ gốc87,99 tỷ lãi trong tháng 5.

Thị trường thứ cấp giao dịch ra sao?

Trên thị trường thứ cấp, tổng giá trị giao dịch TPDN riêng lẻ trong tháng 5/2026 đạt 120.129 tỷ đồng, bình quân đạt 6.006 tỷ đồng/phiên, giảm 8,3% so với bình quân tháng 4/2026.

Bạn nghĩ gì về việc ngân hàngbất động sản tiếp tục áp đảo trên thị trường trái phiếu? Comment bên dưới nhé!

#BatDongSan #NganHang #PhatHanhTraiPhieu #TraiPhieuDoanhNghiep #Vbma

Xem thêm
Mạnh Cường Nhà Đất @manhcuongnhadat · 04/06/2026

Tổng tài sản ngân hàng quý I/2026: 8 nhà băng vượt 1 triệu tỷ đồng

Quý I/2026 ghi nhận 8 ngân hàng có tổng tài sản trên 1 triệu tỷ đồng, trong khi có tới 9 ngân hàng bị sụt giảm quy mô so với cuối năm 2025.

8 ngân hàng có tổng tài sản trên 1 triệu tỷ đồng

Đến hết quý I/2026, có 7 ngân hàng thương mại cổ phần sở hữu tổng tài sản từ 1 triệu tỷ đồng trở lên. Nếu tính cả Agribank, con số này là 8 ngân hàng, không đổi so với cuối năm 2025.

Các ngân hàng thương mại cổ phần trong nhóm này gồm: BIDV 3,32 triệu tỷ đồng, VietinBank 2,89 triệu tỷ đồng, Vietcombank 2,53 triệu tỷ đồng, MB 1,52 triệu tỷ đồng, VPBank 1,27 triệu tỷ đồng, Techcombank 1,11 triệu tỷ đồngACB 1 triệu tỷ đồng.

Ngoài ra, HDBank đang tiến sát ngưỡng 1 triệu tỷ đồng, còn SHB đã vượt mốc 900 nghìn tỷ đồng.

9 ngân hàng bị giảm tổng tài sản

So với cuối năm 2025, tổng tài sản của nhiều ngân hàng bị suy giảm đáng kể. Thống kê cho thấy có đến 9 ngân hàng ghi nhận sự sụt giảm.

Các ngân hàng bị hao hụt gồm: Sacombank giảm hơn 58.000 tỷ đồng (6,4%), LPBank giảm gần 25.000 tỷ đồng (4%), Nam A Bank giảm 9.000 tỷ đồng (2,1%), Techcombank giảm 7.800 tỷ đồng (0,69%), VietBank giảm 6.500 tỷ đồng (3,3%), Eximbank giảm 3.300 tỷ đồng (1,2%), Bac A Bank giảm 2.250 tỷ đồng (1,15%), PGBank giảm 2.170 tỷ đồng (2,4%), BaoViet Bank giảm 594 tỷ đồng (0,53%).

Ngân hàng nào tăng mạnh nhất?

Ngược lại, VietinBank, Vietcombank và VPBank là 3 ngân hàng ghi nhận mức tăng mạnh nhất về quy mô tổng tài sản, với mức tăng thêm trên trăm nghìn tỷ đồng.

Cụ thể, VietinBank tăng 154 nghìn tỷ đồng (5,63%) lên 2,89 triệu tỷ đồng, tiến sát mốc 3 triệu tỷ đồng. Vietcombank tăng 109 nghìn tỷ đồng (4,48%) lên 2,53 triệu tỷ đồng. VPBank tăng 104 nghìn tỷ đồng (9%) lên 1,27 triệu tỷ đồng.

BIDV vẫn là ngân hàng có quy mô tổng tài sản lớn nhất hệ thống, đạt 3,32 triệu tỷ đồng, đồng thời đứng thứ tư trong nhóm tăng mạnh nhất quý I với mức tăng hơn 57 nghìn tỷ đồng.

Các ngân hàng tăng mạnh quy mô tổng tài sản trong quý I còn có SHB, HDBank, ABBank, PVcomBank, TPBank, OCB...

Tổng tài sản toàn ngành đang ở mức nào?

Theo thống kê, tổng tài sản của 29 ngân hàng thương mại cổ phần trong nước đến hết quý I/2026 là 21,626 triệu tỷ đồng. Nếu tính cả Agribank, tổng tài sản của 30 ngân hàng đạt khoảng 24 triệu tỷ đồng.

Tổng tài sản của ngân hàng bao gồm tiền mặt, tiền gửi tại NHNN, cho vay khách hàng, chứng khoán đầu tư, góp vốn đầu tư và các tài sản khác.

Vì sao quy mô tài sản vẫn tăng ở nhiều ngân hàng?

Trong cơ cấu tổng tài sản, dư nợ tín dụng chiếm tỷ trọng lớn nhất. Tăng trưởng tín dụng năm 2025 đạt 19,01% đã tạo nền tảng cho nhiều ngân hàng mở rộng quy mô tài sản trong năm 2025 và những tháng đầu năm 2026.

Nhóm MB, VPBank, HDBank và Vietcombank được phân bổ room tín dụng cao hơn nhờ việc nhận chuyển giao các ngân hàng yếu kém. Vì vậy, nhóm này ghi nhận mức tăng trưởng tài sản tích cực trong năm 2025 và tiếp tục duy trì đà mở rộng trong quý I/2026.

Bảng tổng tài sản các ngân hàng đến 31/3/2026

BIDV: 3.323.029.224 triệu đồng, thay đổi 1,76%
VietinBank: 2.889.565.602 triệu đồng, thay đổi 5,64%
Vietcombank: 2.535.176.624 triệu đồng, thay đổi 4,49%
MB: 1.529.352.857 triệu đồng, thay đổi 0,05%
VPBank: 1.274.900.062 triệu đồng, thay đổi 8,88%
Techcombank: 1.117.935.029 triệu đồng, thay đổi -0,70%
ACB: 1.002.154.481 triệu đồng, thay đổi 0,17%
HDBank: 966.836.149 triệu đồng, thay đổi 5,87%
SHB: 924.801.670 triệu đồng, thay đổi 4,47%
Sacombank: 850.106.259 triệu đồng, thay đổi -6,44%
LPBank: 580.859.917 triệu đồng, thay đổi -4,08%
VIB: 566.171.474 triệu đồng, thay đổi 1,43%
TPBank: 519.008.835 triệu đồng, thay đổi 4,42%
MSB: 416.181.892 triệu đồng, thay đổi 1,27%
Nam A Bank: 409.593.127 triệu đồng, thay đổi -2,17%
SeABank: 403.819.082 triệu đồng, thay đổi 1,70%
OCB: 344.567.455 triệu đồng, thay đổi 6,51%
PVcomBank: 272.758.633 triệu đồng, thay đổi 9%
Eximbank: 270.209.557 triệu đồng, thay đổi -1,21%
ABBank: 250.098.279 triệu đồng, thay đổi 13,50%
Bac A Bank: 193.676.442 triệu đồng, thay đổi -1,15%
VietBank: 190.401.665 triệu đồng, thay đổi -3,33%
NCB: 173.617.466 triệu đồng, thay đổi 6,04%
Viet A Bank: 142.363.631 triệu đồng, thay đổi 1,36%
BVBank: 136.964.944 triệu đồng, thay đổi 2,87%
BaoViet Bank: 110.041.656 triệu đồng, thay đổi -0,54%
KienlongBank: 109.219.947 triệu đồng, thay đổi 5,47%
PGBank: 86.711.063 triệu đồng, thay đổi -2,44%
SaigonBank: 36.115.854 triệu đồng, thay đổi 0,36%

Bạn thấy nhóm ngân hàng nào đang có đà mở rộng đáng chú ý nhất? Comment bên dưới nhé!

#DuNoChoVay #DuNoTinDung #NganHang #TaiSanNganHang #TangTruongTinDung #TongTaiSanNganHang

Xem thêm
Mi Na @mina · 03/06/2026

Tín dụng nhà ở xã hội, khu công nghiệp chỉ tăng thêm 1-2% sau khi nới room

Tín dụng cho nhà ở xã hội, khu công nghiệp chỉ tăng thêm khoảng 1-2% sau khi nới room, theo đánh giá của KBSV. Dù vậy, chính sách này vẫn được xem là tín hiệu tích cực cho dòng vốn vào các phân khúc phục vụ nhu cầu ở thực và sản xuất.

Ngân hàng Nhà nước nới room cho 25 ngân hàng

Theo VnEconomy, ngày 29/05/2026, Ngân hàng Nhà nước ban hành Công văn 4551/NHNN-CSTT, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026 - 31/12/2026, gửi 25 ngân hàng thương mại.

Theo đó, phần dư nợ tín dụng tăng thêm so với năm 2025 đối với các dự án nhà ở xã hội, khu công nghiệpkhu chế xuất được loại khỏi dư nợ tín dụng bất động sản khi kiểm soát mức tăng trưởng tín dụng BĐS theo Công văn 11686/NHNN-CSTT.

Chính sách này tác động ra sao?

KBSV cho rằng động thái này phản ánh chủ trương nắn dòng vốn vào các phân khúc bất động sản phục vụ nhu cầu ở thực, sản xuất và thu hút đầu tư, trong khi vẫn giữ sự thận trọng với các hoạt động mang tính đầu cơ.

Về mặt kinh tế, chính sách có thể hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng của Chính phủ thông qua việc thu hút FDI, đặc biệt khi dòng vốn cho bất động sản khu công nghiệp - khu chế xuất được khơi thông.

Vì sao khu công nghiệp được chú ý?

Việc mở rộng tín dụng cho khu công nghiệp giúp đẩy nhanh tiến độ phát triển hạ tầng công nghiệp và nâng cao năng lực đón các dự án FDI mới. Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục dịch chuyển ra khỏi Trung Quốc, Việt Nam có thêm lợi thế như một điểm đến sản xuất hấp dẫn trong khu vực.

Nhà ở xã hội được hưởng lợi thế nào?

Tính tới giữa tháng 3/2026, dư nợ cho vay nhà ở xã hội mới đạt khoảng 41.000 tỷ đồng, thấp hơn đáng kể so với quy mô chương trình tín dụng 145.000 tỷ đồng.

KBSV kỳ vọng chính sách sẽ thúc đẩy giải ngân, gia tăng nguồn cung nhà ở cho người thu nhập thấp và công nhân, từ đó tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn.

Nhóm nào hưởng lợi rõ nhất?

Trên góc độ đầu tư, KBSV cho rằng tác động sẽ lan tỏa không đồng đều giữa các nhóm ngành.

Nhóm ngân hàng có thể cải thiện dư địa tín dụng với các khoản cho vay thuộc bất động sản khu công nghiệpnhà ở xã hội. Tuy nhiên, do quy mô dư nợ nhà ở xã hội rất nhỏ, chỉ chiếm 0,2% dư nợ toàn nền kinh tế, và dư nợ cho vay khu công nghiệp - khu chế xuất toàn hệ thống ước tính không nhiều, dư địa tăng thêm từ chính sách này được KBSV đánh giá là tương đối hạn chế, khoảng 1-2%.

Nhóm bất động sản khu công nghiệp và nhà ở xã hội được kỳ vọng hưởng tác động tích cực, đặc biệt là các doanh nghiệp có dự án triển khai thực tế vì chính sách chỉ có hiệu lực tới cuối 2026.

Nhóm xây lắp và vật liệu xây dựng cũng có thể hưởng lợi, nhưng tác động sẽ có độ trễ do phụ thuộc vào tiến độ giải ngân và triển khai dự án.

Mirae Asset nói gì thêm?

Trước đó, Mirae Asset cũng đánh giá nhóm khu công nghiệp là đối tượng hưởng lợi rõ ràng nhất trong cấu trúc chính sách lần này.

Cơ chế loại trừ dư nợ khu công nghiệp/khu chế xuất khỏi hạn mức giúp ngân hàng tự tin giải ngân vốn trung và dài hạn, trong khi các dự án hạ tầng khu công nghiệp thường có thời gian hoàn vốn dài và trước đây dễ bị co lại khi ngân hàng gần chạm trần tín dụng bất động sản.

Điểm nhà đầu tư cần lưu ý

Chính sách này chỉ tháo gỡ điểm nghẽn vốn cho phân khúc nhà ở xã hội theo định nghĩa pháp lý, không áp dụng đại trà cho mọi doanh nghiệp bất động sản.

Nhà đầu tư cũng cần phân biệt giữa doanh nghiệp nhà ở xã hội thuần túy và doanh nghiệp bất động sản đại đô thị có kèm một phần nhà ở xã hội.

Khi dòng vốn của chủ đầu tư được ngân hàng bảo lãnh và giải ngân ổn định, tiến độ xây dựng được đảm bảo, từ đó kích hoạt các gói tín dụng người mua nhà — đây là điểm cốt lõi của thị trường nhà ở xã hội.

Với nhóm xây dựng, tác động có thể rõ hơn trong nửa cuối 2026 khi các dự án bắt đầu giải ngân thực sự. Nhà đầu tư có thể theo dõi các mã như VCG, CTD, FCN...

Bạn nghĩ sao về tác động của chính sách này? Comment bên dưới nhé!

#BatDongSan #ChinhSachViMo #ChoVayBatDongSan #DauTu #DuAnDauTu #Hose #KinhTeSo #NganHang #SoLieuKinhTeViMo #TaiChinh #ThiTruongChungKhoan #ThongTinKinhTeVietNam #TinKinhTe #Vnindex

Xem thêm
Mi Na @mina · 02/06/2026

Thị trường bất động sản vẫn còn 5 điểm nghẽn lớn

Thị trường bất động sản Việt Nam vẫn còn 5 điểm nghẽn lớn cần tháo gỡ, theo Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Văn Sinh. Dù nguồn cung và thanh khoản đã cải thiện, bài toán nhà ở phù hợp thu nhập vẫn là nút thắt đáng chú ý.

Thị trường đã có tín hiệu tích cực, nhưng chưa đồng đều

Tại Diễn đàn Bất động sản Việt Nam 2026 ngày 2/6/2026, Thứ trưởng Nguyễn Văn Sinh cho biết thời gian qua thị trường đã ghi nhận nhiều chuyển biến: nhiều dự án lớn được khởi công, nhiều dự án vướng pháp lý đã tái khởi động, nguồn cung và tính thanh khoản đều cải thiện.

Theo Bộ Xây dựng, trên cả nước đã có 3.289 dự án đất đai với tổng mức đầu tư nhiều triệu tỷ đồng, khoảng hơn 70.000 ha đất được tháo gỡ khó khăn, tiếp tục triển khai. Bên cạnh đó, có 781 dự án nhà ở xã hội đang được triển khai với quy mô 720.055 căn, đạt 72% so với chỉ tiêu 01 triệu căn nhà ở xã hội.

5 điểm nghẽn lớn của thị trường bất động sản là gì?

1. Lệch pha cung - cầu

Thị trường nhà ở đang dư nguồn cung ở phân khúc cao cấp, trong khi lại thiếu nghiêm trọng nhà ở có giá phù hợp với thu nhập của người dân.

2. Thiếu nhà ở cho thuê dài hạn

Cơ cấu sản phẩm hiện vẫn thiên về nhà ở thương mại và nhà ở để bán. Trong khi đó, phân khúc nhà ở cho thuê dài hạn đáp ứng nhu cầu thực với giá hợp lý vẫn còn rất thiếu.

3. Giá nhà quá cao

Giá nhà hiện cao gấp nhiều lần so với mức tăng thu nhập trung bình, khiến người thu nhập thấp tại các đô thị lớn rất khó tiếp cận nhà ở.

4. Chính sách chưa đủ hấp dẫn với nhà ở cho thuê

Cơ chế, chính sách hiện tại chưa đủ sức hút để khu vực tư nhân mạnh dạn đầu tư vào nhà ở cho thuê dài hạn.

5. Dữ liệu nhà ở chưa liên thông

Hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu về nhà ở giữa Trung ương và địa phương chưa kết nối hoàn toàn, gây khó khăn cho quản lý nhà nước và làm giảm mức độ minh bạch của thị trường.

Cần làm gì trong thời gian tới?

Thứ trưởng Nguyễn Văn Sinh cho rằng đây là những vấn đề đã tích tụ, không thể giải quyết trong một sớm một chiều, nhưng phải triển khai ngay và làm đồng bộ để đáp ứng nhu cầu nhà ở của người dân.

Ông cũng nêu một số nhiệm vụ trọng tâm: sơ kết việc thực hiện Chỉ thị số 34-CT/TW; xây dựng dự thảo Chỉ thị mới của Ban Bí thư về phát triển nhà ở và thị trường bất động sản; sửa đổi, bổ sung Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Đất đai và các luật liên quan, trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp tháng 10/2026.

Bên cạnh đó, cần điều tiết hợp lý cơ cấu nguồn cung, ưu tiên phát triển nhà ở xã hội, nhà ở thương mại giá phù hợp, nhà ở cho công nhân, người thu nhập thấp và đẩy mạnh nhà ở cho thuê.

Địa phương cần vào cuộc ra sao?

Thứ trưởng đề nghị UBND các tỉnh, thành phố khảo sát nhu cầu nhà ở cho thuê theo từng nhóm đối tượng, từng khu vực cụ thể để có kế hoạch đầu tư phù hợp.

Đồng thời, cần rà soát quy hoạch, bố trí quỹ đất phù hợp, đồng bộ hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội để phát triển nhà ở cho thuê, nhất là tại khu công nghiệp và khu dân cư tập trung.

Với nhà ở xã hội, các địa phương cần chọn chủ đầu tư có năng lực, đẩy nhanh thủ tục theo luồng xanh, luồng ưu tiên để phấn đấu hoàn thành vượt chỉ tiêu nhà ở xã hội năm 2026 và các năm tiếp theo.

Ngoài ra, cần xử lý dứt điểm các dự án bất động sản tồn đọng, kéo dài; tăng cường công khai minh bạch thông tin thị trường; đẩy nhanh xây dựng và kết nối cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản; thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý thị trường.

Bạn thấy đâu là điểm nghẽn lớn nhất của thị trường hiện nay? Comment bên dưới nhé!

#BatDongSan #BatDongSanVietNam #ChinhSachViMo #DauTu #DiemNghenThiTruong #DuAnDauTu #Hose #KinhTeSo #NganHang #NhaOXaHoi #PhatTrienBenVung #SoLieuKinhTeViMo #TaiChinh #ThiTruongChungKhoan #ThongTinKinhTeVietNam #ThuTruongBoXayDungNguyenVanSinh #TinKinhTe #Vnindex

Xem thêm
Lan Trinh @lantrinh · 31/05/2026

Lãi suất huy động ngân hàng hôm nay 31/5/2026: Nhiều kỳ hạn vượt 6%/năm

Lãi suất huy động ngày 31/5/2026 tiếp tục phân hóa rõ giữa nhóm ngân hàng nhà nước, tư nhân và ngân hàng nước ngoài. Đáng chú ý, nhiều kỳ hạn 6 tháng, 9 tháng và 12 tháng đã niêm yết trên 6%/năm.

Kỳ hạn ngắn: 1 tháng và 3 tháng đang quanh trần 4,75%/năm

Ở kỳ hạn 1 tháng, nhiều ngân hàng áp dụng mức 4,75%/năm như Saigonbank, OCB, PGBank, BVBank, CIMB Bank, PVcomBank, SHB và Bảo Việt Bank. Đây là nhóm lãi suất cao cho khách hàng muốn giữ thanh khoản.

Một số ngân hàng khác thấp hơn đáng kể: Vietcombank khoảng 2,1%/năm, Agribank khoảng 3%/năm, còn ACB khoảng 4 - 4,6%/năm tùy hình thức gửi.

Với kỳ hạn 3 tháng, mặt bằng phổ biến nằm trong vùng 3,6 - 4,75%/năm. Nhóm niêm yết cao 4,75%/năm gồm Nam A Bank, VIB, OCB, PGBank, VPBank, BVBank và Sacombank. VietABank khoảng 4,70%/năm, SHB khoảng 4,20%/năm.

Kỳ hạn 6 tháng: nhiều ngân hàng đã vượt 6%/năm

Từ kỳ hạn 6 tháng, lãi suất phân hóa mạnh hơn. Nhóm ngân hàng có mức từ 6%/năm trở lên gồm PGBank, LPBank, BVBank, OCB, Saigonbank, MSB, NCB, SHB, Sacombank, Techcombank, VietinBank, Bảo Việt Bank, UOB, VPBank, TPBank và CIMB Bank.

Một số mức nổi bật được ghi nhận: SHB khoảng 7,7%/năm ở kênh online, Sacombank khoảng 7,3%/năm, UOB khoảng 7,1%/năm, PGBank và LPBank khoảng 6,9%/năm, BVBank khoảng 6,7%/năm, VietinBank và Bảo Việt Bank khoảng 6,6%/năm, Techcombank khoảng 6,55%/năm.

Ở chiều ngược lại, Vietcombank khoảng 3,5%/năm, Agribank khoảng 5%/năm; một số ngân hàng nước ngoài như HSBC, Standard Chartered thấp hơn đáng kể so với nhóm nội.

Kỳ hạn 9 tháng: nhóm trên 6%/năm tiếp tục chiếm ưu thế

Với kỳ hạn 9 tháng, các mức cao tiếp tục tập trung ở nhóm ngân hàng tư nhân và một số ngân hàng nước ngoài có chính sách huy động cạnh tranh. SHB và Sacombank nằm trong nhóm cao với mức khoảng 7,3 - 7,7%/năm ở kênh online, còn UOB khoảng 7,1%/năm.

PGBank, LPBank, BVBank, VietinBank, Bảo Việt Bank, Techcombank, MSB, OCB, NCB, Saigonbank, Nam Á Bank, VPBank, TPBank và CIMB Bank là những ngân hàng có lãi suất kỳ hạn 9 tháng chủ yếu trong vùng trên 6%/năm đến gần 7%/năm.

Kỳ hạn này phù hợp với người gửi muốn hưởng lãi cao hơn kỳ hạn ngắn nhưng chưa muốn khóa vốn quá dài như 12 tháng hoặc 24 tháng.

Kỳ hạn 12 tháng: một số ngân hàng niêm yết từ 7%/năm trở lên

Ở kỳ hạn 12 tháng, lãi suất huy động ghi nhận nhiều mức cao hơn so với kỳ hạn ngắn. SHB khoảng 7,8%/năm ở kênh online; Sacombank khoảng 7,5%/năm; PGBank, LPBank và VIB khoảng 7%/năm; UOB khoảng 7,1%/năm.

Nhóm ngân hàng có mức từ 6,5%/năm trở lên gồm BVBank, MSB, Techcombank, Saigonbank, OCB, CIMB Bank, Bảo Việt Bank, VietinBank, PGBank, LPBank, VIB và Sacombank.

Gợi ý nhanh cho người gửi tiền

Nếu ưu tiên linh hoạt, các kỳ hạn 1 tháng3 tháng đang phổ biến quanh 4,75%/năm. Nếu muốn tối ưu lãi suất, nhóm 6 - 12 tháng đang là nơi có nhiều mức trên 6%/năm.

Bạn đang quan tâm kỳ hạn nào nhất: 1 tháng, 3 tháng hay 12 tháng? Comment bên dưới nhé!

#GuiTietKiem #LaiSuat12Thang #LaiSuatHuyDong #NganHang #NganHangSo

Xem thêm
Minh Tú BĐS @minhtubds · 26/05/2026

ACB: Khối ngoại rút hơn 150 triệu cp, nhóm Âu Lạc lên 6%

Khối ngoại đã rút hơn 150 triệu cp ACB, trong khi nhóm cổ đông liên quan CTCP Âu Lạc nâng sở hữu lên 6%. Diễn biến này đang làm thay đổi đáng kể cục diện cổ đông lớn tại ACB.

Khối ngoại đồng loạt thu hẹp vị thế

Theo danh sách cổ đông sở hữu từ 1% vốn điều lệ trở lên tính đến ngày 18/5, ba pháp nhân ngoại đã giảm mạnh tỷ trọng tại ACB.

Smallcap World Fund, Inc. giảm từ hơn 112 triệu xuống còn khoảng 76,7 triệu cp, tương đương 1,494% vốn.

Boardwalk South Limited hạ từ hơn 82,2 triệu xuống hơn 43 triệu cp, chiếm 0,839% vốn.

Đáng chú ý, VOF PE Holding 5 Limited đã thoái toàn bộ hơn 76,6 triệu cp ACB.

Tổng cộng, lượng cp ACB bị các định chế ngoại bán ra đã lên trên 150 triệu đơn vị.

Vì sao khối ngoại rút vốn?

Động thái này thường đến từ các yếu tố kỹ thuật như vòng đời quỹ, áp lực hoàn vốn cho LP của các quỹ PE hoặc tái cơ cấu danh mục theo ngành và quốc gia.

Dữ liệu công bố hiện tại cho thấy đây là hoạt động cơ cấu tài sản chủ động từ phía các định chế ngoại.

Nhóm Âu Lạc nâng sở hữu lên 6%

Ở chiều ngược lại, nhóm cổ đông liên quan CTCP Âu Lạc đã mua vào mạnh tay.

Riêng trong phiên ngày 4/5, bà Nguyễn Thiên Hương Jenny mua gần 8,4 triệu cp, nâng sở hữu cá nhân lên 2,3% vốn điều lệ (xấp xỉ 118 triệu cp).

Tính tổng hợp cả người có liên quan, nhóm vốn này đang nắm giữ hơn 308 triệu cp, tương ứng 6% tại ACB.

Với giá đóng cửa 23.100 đồng/cp trong phiên 4/5, lượng cổ phần bà Jenny mua thêm trị giá hơn 190 tỷ đồng.

Ở vùng giá quanh 23.000 đồng/cp, cứ mỗi 1% vốn điều lệ tại ACB, tức hơn 51 triệu cp, có giá trị thị trường xấp xỉ 1.200 tỷ đồng.

6% có tạo quyền kiểm soát không?

Không đủ để chi phối trực tiếp, nhưng tỷ lệ này vẫn làm thay đổi tương quan giữa các nhóm vốn lớn tại một ngân hàng có cơ cấu cổ đông phân tán như ACB.

Nhóm này gắn với cấu trúc thành viên gia đình bà Ngô Thu Thúy, gồm ông Nguyễn Đức Hinh, ông Nguyễn Đức Hiếu Johnny, CTCP Làng Giáo dục Quốc tế Thiên Hương và CTCP ICON.

Trước đó, nhóm Âu Lạc đã vượt mốc cổ đông lớn 5%, kéo theo nghĩa vụ công bố thông tin theo quy định.

Khung pháp lý và cấu trúc sở hữu tại ACB

Luật Các TCTD 2024 quy định: một cổ đông cá nhân không được nắm quá 5% vốn điều lệ, một cổ đông tổ chức không vượt quá 10%, và cổ đông cùng người có liên quan không được vượt 15%.

Luật cũng nghiêm cấm dùng vốn vay từ TCTD hoặc nguồn vốn phát hành trái phiếu doanh nghiệp để mua cổ phần ngân hàng.

Hiện ACB không có cổ đông lớn nào nắm quyền chi phối tuyệt đối. Cơ cấu sở hữu vẫn phân tán giữa nhiều cái tên như CTCP Đầu tư Thời Đại, bà Đặng Ngọc Lan, Chủ tịch HĐQT Trần Hùng Huy, ông Nguyễn Đức Kiên, Akston Investments Limited, Smallcap World Fund, Inc., CTCP Đầu tư Thương mại Giang Sen và bà Jenny.

Trong cấu trúc này, các mốc 1%, 5% hay 6% không chỉ là con số sở hữu, mà còn là cơ sở pháp lý cho quyền cổ tức, quyền biểu quyết tại ĐHĐCĐ và tiếng nói trong các quyết sách lớn.

ACB đang kinh doanh ra sao?

Song song với biến động cổ đông, ACB đang có quy mô tổng tài sản vượt mốc 1 triệu tỷ đồng.

Kết thúc quý I/2026, ngân hàng ghi nhận lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt 5.368 tỷ đồng, tăng 55% so với quý trước và tăng 16,8% so với cùng kỳ. Dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 711 nghìn tỷ đồng, tăng 3,2% so với đầu năm.

Thu nhập lãi thuần đạt 6.989 tỷ đồng, tăng 9,9%; hoạt động dịch vụ mang về 993 tỷ đồng, tăng 13,9%; kinh doanh ngoại hối và vàng đóng góp 483 tỷ đồng, tăng 1,5%; còn mảng mua bán chứng khoán kinh doanh đạt 186 tỷ đồng, tăng gần 8 lần.

TOI của ngân hàng đạt 8.905 tỷ đồng, tăng 12,5% so với quý I năm trước. Chi phí hoạt động tăng 5,9%, lên 2.692 tỷ đồng.

Về chất lượng tài sản, tỷ lệ nợ xấu (NPL) cuối quý I ở mức 0,97%, tương ứng 6.857 tỷ đồng. Tỷ lệ dự phòng bao phủ nợ xấu đạt 114%.

Các chỉ số an toàn khác cũng duy trì ổn định: LDR xấp xỉ 81%, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn 24,9%, CAR hợp nhất 12,6%.

Cho cả năm 2026, ĐHĐCĐ ACB đã thông qua kế hoạch lợi nhuận trước thuế 22.338 tỷ đồng, tăng hơn 14%; tổng tài sản, dư nợ tín dụng và huy động vốn cùng mục tiêu tăng 16%; nợ xấu dưới 2%; và phương án chia cổ tức tổng tỷ lệ 20% gồm 13% bằng cp và 7% bằng tiền mặt.

Trong quý I, lợi nhuận trước thuế của khối công ty con tăng 2,6 lần so với cùng kỳ, nâng tỷ lệ đóng góp vào lợi nhuận hợp nhất lên 8%. Trong đó, ACBS đạt lợi nhuận trước thuế 306 tỷ đồng, tăng 74%.

Bạn nghĩ sao về diễn biến cổ đông tại ACB? Comment bên dưới nhé!

#Acb #CoCauCoDong #KetQuaKinhDoanh #KhoiNgoai #LuatCacTctd2024 #NganHang #NganHangAChau #NhomAuLac #ThiTruongChungKhoan #ThoaiVon

Xem thêm
Minh Tú BĐS @minhtubds · 26/05/2026

Lãi suất huy động hôm nay 26/5/2026: kỳ hạn 24 tháng cao nhất 7%/năm

Lãi suất huy động hôm nay 26/5/2026 ghi nhận nhiều ngân hàng đang áp dụng mức trên 6%/năm cho kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, trong bối cảnh nhu cầu huy động vốn trung và dài hạn gia tăng.

Mặt bằng lãi suất tiết kiệm hiện nay ra sao?

Theo dữ liệu niêm yết tại gần 30 ngân hàng, lãi suất tiết kiệm hiện dao động từ 0,05% đến 7,5%/năm tùy kỳ hạn và từng nhà băng. Trong đó, các kỳ hạn dài từ 12 đến 24 tháng tiếp tục ghi nhận mức lãi cao nhất trên thị trường.

Tiền gửi không kỳ hạn

Ở nhóm không kỳ hạn, mức lãi phổ biến dao động từ 0,05% đến 0,5%/năm.

MB Bank niêm yết 0,05%/năm; ABBANK, BIDV, LPBank, Vietcombank và VietinBank cùng áp dụng 0,1%/năm. Agribank ở mức 0,2%/năm; BAOVIET Bank 0,3%/năm; Bac A Bank và Kienlongbank cùng niêm yết 0,5%/năm.

Kỳ hạn 1 tháng và 3 tháng

Tại kỳ hạn 1 tháng, mức lãi cao nhất thuộc về OCB và PGBank với 4,75%/năm; tiếp đến là VPBank, BVBank và Sacombank cùng ở mức 4,75%/năm.

Nhóm ngân hàng quốc doanh gồm Agribank, BIDV, Vietcombank và VietinBank áp dụng mức từ 2,1-2,6%/năm.

Ở kỳ hạn 3 tháng, OCB, PGBank, VPBank, BVBank và Sacombank tiếp tục nằm trong nhóm dẫn đầu với 4,75%/năm. Bac A Bank niêm yết 4,55%/năm; TPBank 4,2%/năm; SHB 4,5%/năm; Eximbank 3,6%/năm.

Kỳ hạn 6 tháng và 9 tháng: nhiều ngân hàng trên 6%/năm

Đối với kỳ hạn 6 tháng, Shinhan Bank đang niêm yết mức cao nhất 7%/năm. Bac A Bank đứng kế tiếp với 6,85%/năm; OCB 6,4%/năm; PGBank 6,6%/năm; BVBank 6,45%/năm; LPBank 6,2%/năm; Vietbank 6%/năm.

Nhóm ngân hàng quốc doanh gồm BIDV, Vietcombank và VietinBank cùng duy trì 3,5%/năm.

Tại kỳ hạn 9 tháng, Bac A Bank tiếp tục dẫn đầu với 6,85%/năm. PGBank niêm yết 6,6%/năm; BVBank 6,45%/năm; OCB 6,4%/năm; LPBank 6,2%/năm; Vietbank và VPBank cùng đạt 6,1%/năm.

Kỳ hạn 12 tháng, 18 tháng và 24 tháng

Ở kỳ hạn 12 tháng, Shinhan Bank dẫn đầu toàn thị trường với 7,5%/năm. Bac A Bank áp dụng 6,9%/năm; OCB và PGBank cùng ở mức 6,7%/năm; BVBank 6,65%/năm; SHB, MB Bank và Vietbank cùng đạt 6,2%/năm.

Trong khi đó, BIDV, Vietcombank, VietinBank và Agribank cùng niêm yết 5,9%/năm.

Đối với kỳ hạn 18 tháng, Shinhan Bank áp dụng 7,1%/năm. PGBank đạt 6,8%/năm; Bac A Bank 6,75%/năm; OCB và LPBank cùng ở mức 6,6%/năm; Vietbank và TPBank cùng niêm yết 5,9-6%/năm.

Ở kỳ hạn 24 tháng, MB Bank đang dẫn đầu với 7%/năm. OCB và Sacombank cùng niêm yết 6,8%/năm; Bac A Bank 6,75%/năm; SHB và Vietbank cùng đạt 6,5%/năm; BIDV, Vietcombank, VietinBank và Agribank cùng áp dụng mức 6%/năm.

Bạn đang ưu tiên kỳ hạn nào?

Nếu đang so sánh lãi suất để gửi tiết kiệm, bạn có thể xem kỹ kỳ hạn 6 đến 24 tháng vì đây là nhóm đang có mức lãi cao nhất trên thị trường hiện nay. Bạn nghĩ sao về mặt bằng lãi suất này? Comment bên dưới nhé!

#GuiTietKiem #KyHan24Thang #LaiSuatHuyDong #NganHang #ShinhanBank

Xem thêm
Mạnh Cường Nhà Đất @manhcuongnhadat · 20/05/2026

BIDV tăng vốn điều lệ lên 77,783 tỷ, phát hành hơn 498 triệu cp

BIDV vừa phê duyệt phương án tăng vốn điều lệ lên 77,783 tỷ đồng, thông qua phát hành thêm hơn 498 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu.

BIDV tăng vốn điều lệ bằng cách nào?

Ngày 19/05, HĐQT Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV, HOSE: BID) công bố nghị quyết phê duyệt phương án tăng vốn điều lệ theo hình thức phát hành cổ phiếu để tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu.

Cụ thể, BIDV dự kiến phát hành thêm hơn 498 triệu cp cho cổ đông hiện hữu, với tỷ lệ 6.8433%. Tổng giá trị phát hành theo mệnh giá gần 4,982 tỷ đồng.

Nguồn vốn thực hiện đến từ đâu?

Nguồn vốn thực hiện đến từ quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ theo BCTC kiểm toán năm 2025. Thời gian thực hiện dự kiến trong quý 2-3/2026.

Vốn điều lệ BIDV sẽ thay đổi thế nào?

Theo kế hoạch, vốn điều lệ của BIDV sẽ tăng từ mức 72,801 tỷ đồng lên 77,783 tỷ đồng.

Vì sao BIDV tăng vốn điều lệ?

Theo BIDV, việc tăng vốn nhằm tiếp tục mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh theo kế hoạch kinh doanh 2026, gia tăng hiệu quả, nâng cao định hạng, thương hiệu BIDV trên thị trường, đồng thời hỗ trợ thực hiện định hướng của Đảng, Chính phủ tại Nghị Quyết số 79/TW về phát triển kinh tế Nhà nước.

Bạn nghĩ sao về kế hoạch tăng vốn này của BIDV? Comment bên dưới nhé!

#Bidv #CoDongHienHuu #NganHang #PhatHanhCoPhieu #TangVonDieuLe

Xem thêm
An Nhiên @annhien · 20/05/2026

Lợi nhuận toàn thị trường quý 1/2026 tăng 38,4%: nhóm nào dẫn dắt?

Lợi nhuận sau thuế toàn thị trường quý 1/2026 tăng 38,4% so với cùng kỳ, theo dữ liệu mới nhất từ FiinTrade. Tuy nhiên, mức tăng này tập trung chủ yếu ở một vài doanh nghiệp lớn, trong đó nổi bật là nhóm phi tài chính.

Nhóm nào đang kéo tăng trưởng?

Nhóm phi tài chính tăng rất mạnh +69,3%, trong khi nhóm tài chính chỉ tăng +13,7%.

Tính riêng lợi nhuận trước thuế, toàn thị trường tăng thêm hơn 67 nghìn tỷ đồng so với cùng kỳ. Trong đó, khoảng 58 nghìn tỷ đồng đến từ hoạt động kinh doanh cốt lõi.

Đóng góp lớn nhất đến từ VHM với khoảng 27 nghìn tỷ đồng từ bàn giao dự án và BSR với 8,9 nghìn tỷ đồng từ hoạt động sản xuất xăng dầu.

Thu nhập ngoài lõi cũng góp phần đáng kể

Hoạt động ngoài lõi đóng góp thêm khoảng 9 nghìn tỷ đồng vào mức tăng lợi nhuận trước thuế, chủ yếu đến từ HPG nhờ chuyển nhượng dự án bất động sản tại Hưng Yên và VPL từ chuyển nhượng dự án bất động sản tại TP.HCM.

Nếu loại trừ 4 doanh nghiệp gồm VHM, BSR, HPG và VPL, tăng trưởng lợi nhuận sau thuế toàn thị trường chỉ còn +15,4%, tương đương gần một nửa mức tăng được báo cáo. Khi đó, nhóm phi tài chính tăng +17,6% thay vì +69,3%.

Những ngành nào hưởng lợi?

Mức tăng vượt trội chủ yếu tập trung ở các nhóm hưởng lợi từ đà tăng của giá hàng hóa, trong khi nhiều ngành trụ cột bắt đầu đối mặt áp lực.

Nhóm dầu khí gồm BSR, OIL, PVD, PVS, PVB; nhóm thép với HPG; và hàng cá nhân như PNJ được hưởng lợi nhờ giá hàng hóa tăng. Riêng HPG còn ghi nhận lợi nhuận đột biến từ chuyển nhượng dự án khu đô thị tại Hưng Yên.

Ở nhóm bán lẻ, lợi nhuận tăng trưởng cao nhờ doanh thu phục hồi và biên lợi nhuận trước lãi vay và thuế (EBIT) cải thiện, nổi bật tại MWG, FRTPET, trong khi DGW được hỗ trợ từ thu nhập tài chính.

Phần lớn các ngành thuộc nhóm hồi phục ghi nhận lợi nhuận cải thiện từ nền thấp, đáng chú ý là thực phẩm và đồ uống với đóng góp từ VNM, SABMPC. Một phần tăng trưởng đến từ các khoản thu nhập không thường xuyên như hoàn nhập dự phòng tại HAG hay thoái vốn Bibica của PAN.

Áp lực đang xuất hiện ở đâu?

Tuy nhiên, cầu tiêu dùng hồi phục chậm cùng áp lực chi phí nguyên liệu tăng đang trở thành trở lực chính đối với đà phục hồi trong các quý tới.

Áp lực tăng trưởng cũng xuất hiện tại các ngành chủ chốt như ngân hàng trong bối cảnh biên lãi ròng (NIM) thu hẹp và tăng trưởng tín dụng chậm lại. Với ngành bất động sản, nếu loại trừ VHM, lợi nhuận toàn ngành giảm mạnh -66,5% so với cùng kỳ thay vì tăng +41,4%.

Ở lĩnh vực công nghệ thông tin, lợi nhuận suy giảm chủ yếu do FPT thay đổi phương pháp hạch toán đối với FOX từ năm 2026. Trong khi đó, nhóm xây dựng và vật liệu ghi nhận lợi nhuận giảm tốc sau giai đoạn tăng trưởng cao, cho thấy động lực từ đầu tư công đang dần hạ nhiệt.

Nhóm phi tài chính tăng mạnh, nhưng không hoàn toàn từ lõi

Lợi nhuận sau thuế của nhóm phi tài chính tiếp tục tăng tốc trong quý I/2026, đạt +69,3% so với cùng kỳ nhờ doanh thu tăng +22,6% và biên EBIT cải thiện thêm +1,5 điểm %.

Biên EBIT mở rộng mạnh tại nhóm bất động sản (+10,3 điểm %) với đóng góp chính từ VHM; dầu khí (+4,6 điểm %) chủ yếu nhờ BSR; và tài nguyên cơ bản (+2,2 điểm %) nổi bật ở MSRKSV.

Đáng chú ý, tăng trưởng cao của nhóm phi tài chính không hoàn toàn đến từ hoạt động cốt lõi. Trong quý I/2026, thu nhập ngoài lõi tăng +116,5% so với cùng kỳ và đóng góp khoảng 1/4 mức tăng trưởng lợi nhuận sau thuế toàn nhóm.

Các khoản thu nhập bất thường tập trung tại HPG (chuyển nhượng dự án khu đô thị ở Hưng Yên), VPL (thanh lý bất động sản tại TP.HCM), HAG (hoàn nhập dự phòng), PAN (thoái vốn Bibica) và PDR (chuyển nhượng dự án).

Ngân hàng đang chậm lại ra sao?

Ngành ngân hàng tiếp tục chịu áp lực tăng trưởng trong quý 1/2026 khi lợi nhuận sau thuế chỉ tăng +13,7% so với cùng kỳ, mức thấp nhất trong 8 quý gần đây.

So với quý 4/2025, lợi nhuận toàn ngành giảm -2,5% theo quý, đánh dấu mức suy giảm mạnh nhất kể từ cuối năm 2024.

Đáng chú ý, cả thu nhập lãi thuần và thu nhập ngoài lãi đều giảm trong quý 1/2026, lần lượt -2,5%-27,2% so với quý trước. Diễn biến này phản ánh áp lực ngày càng lớn từ việc biên lãi ròng thu hẹp do chi phí huy động vốn tăng, tăng trưởng tín dụng chậm lại và nền lợi nhuận cao của giai đoạn trước.

Bạn nhìn nhận thế nào về bức tranh lợi nhuận quý 1/2026 này? Comment bên dưới nhé!

#Bsr #Fiintrade #NganHang #Quy12026 #Vhm

Xem thêm
Mi Na @mina · 19/05/2026

Quảng Ninh lấy ý kiến thành lập Thành phố, 99,96% hộ dân đồng thuận

Quảng Ninh ghi nhận 99,96% hộ dân đồng thuận với Đề án thành lập Thành phố Quảng Ninh trên cơ sở địa giới hành chính hiện hữu. Đây là bước quan trọng để tỉnh tiếp tục hoàn thiện hồ sơ trình cấp có thẩm quyền xem xét.

Kết quả lấy ý kiến người dân ra sao?

Theo báo cáo của tỉnh Quảng Ninh, đến ngày 9/5/2026, các tổ lấy ý kiến đã hoàn thành việc thu phiếu, lập biên bản, tổng hợp và báo cáo UBND cấp xã, phường, đặc khu. Sau đó, UBND các xã, phường, đặc khu tiếp tục tổng hợp và báo cáo HĐND cùng cấp, UBND tỉnh.

Kết quả cho thấy có 385.597/387.751 hộ gia đình tham gia ý kiến, đạt 99,44%. Trong số phiếu hợp lệ, có 385.440 hộ đồng ý, chiếm 99,96%; 154 hộ không đồng ý, chiếm 0,04%; cùng 3 ý kiến không hợp lệ1 ý kiến khác.

Tỉnh ủy và các cơ quan, đơn vị có thống nhất không?

Bên cạnh ý kiến từ người dân, Tỉnh ủy Quảng Ninh cũng lấy ý kiến đối với dự thảo Tờ trình, Đề án của Tỉnh ủy báo cáo Bộ Chính trị xin chủ trương thành lập Thành phố Quảng Ninh. Kết quả: 54/54 ủy viên thống nhất với dự thảo Tờ trình và Đề án, trong đó có 5 ý kiến góp ý bổ sung.

Đồng thời, theo giao của UBND tỉnh, Sở Nội vụ đã gửi lấy ý kiến các cơ quan, đơn vị đối với dự thảo Đề án. Đến ngày 28/4/2026, có 23 cơ quan, đơn vị phản hồi, gồm 12 đơn vị đồng ý hoàn toàn11 đơn vị đồng ý kèm góp ý.

Quảng Ninh đang làm gì tiếp theo?

UBND tỉnh cho biết công tác lấy ý kiến được triển khai nghiêm túc, dân chủ, công khai, đúng trình tự theo Nghị định số 321/2025/NĐ-CP ngày 16/12/2025 của Chính phủ và các quy định liên quan. Tỉnh nhấn mạnh việc bảo đảm người dân tiếp cận thông tin đầy đủ, kịp thời và thuận lợi khi tham gia ý kiến.

Tuy nhiên, vẫn còn một số ít hộ gia đình chưa đồng thuận. Vì vậy, thời gian tới, các cấp ủy và chính quyền sẽ tiếp tục tuyên truyền, vận động, giải thích để người dân hiểu rõ mục tiêu, ý nghĩa của Đề án; đồng thời giải đáp các kiến nghị chính đáng, hướng tới sự đồng thuận cao hơn.

Đề án này tác động gì đến Quảng Ninh?

Trên cơ sở kết quả lấy ý kiến nhân dân và các cơ quan, đơn vị, UBND tỉnh sẽ tiếp thu, hoàn thiện hồ sơ Đề án, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét trước khi trình HĐND tỉnh thông qua, làm cơ sở trình Chính phủ và Bộ Nội vụ.

Theo tỉnh Quảng Ninh, sau khi sắp xếp, tỉnh có 54 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 22 xã, 30 phường và 2 đặc khu. Tỉnh cũng cho biết đã cơ bản đáp ứng các điều kiện, đạt 7/7 tiêu chuẩn của thành phố theo quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương và Nghị quyết số 112/2025/UBTVQH15.

Trong đó, tỉnh đạt đủ 6 tiêu chuẩn gồm: quy mô dân số; diện tích tự nhiên; tỷ lệ số phường trên tổng số đơn vị hành chính cấp xã; tỷ lệ đô thị hóa; vị trí, chức năng theo quy hoạch hoặc định hướng được phê duyệt; cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội.

Riêng tiêu chí 6 là đã được công nhận là đô thị loại I, qua rà soát thực trạng và đối chiếu quy định hiện hành, Quảng Ninh cho biết đã đạt tiêu chí này và đang hoàn thiện thủ tục trình Bộ Xây dựng công nhận.

Bạn nghĩ sao về bước đi này của Quảng Ninh? Comment bên dưới nhé!

#BatDongSan #ChinhSachViMo #DauTu #DeAnThanhLap #DongThuanHoDan #DuAnDauTu #Hose #KinhTeSo #NganHang #QuangNinh #SoLieuKinhTeViMo #TaiChinh #ThanhPhoQuangNinh #ThiTruongChungKhoan #ThongTinKinhTeVietNam #TinKinhTe #Vnindex #YKienNhanDan

Xem thêm
Minh Tú BĐS @minhtubds · 19/05/2026

Tỷ giá ngoại tệ ngày 19/5: Bảng Anh vượt 35.600 đồng, USD cao

Tỷ giá ngoại tệ ngày 19/5 ghi nhận nhiều đồng tiền mạnh tiếp tục duy trì mặt bằng cao. Nổi bật nhất là bảng Anh vượt 35.600 đồng, còn USD được niêm yết bán ra 26.387 đồng.

USD và euro vẫn ở vùng giá cao

Trong phiên giao dịch mới nhất, USD tại ngân hàng được niêm yết mua tiền mặt 26.107,00 đồng/USD, mua chuyển khoản 26.137,00 đồng/USD và bán ra 26.387,00 đồng/USD.

Với euro (EUR), mức giá cũng đang ở ngưỡng cao: mua tiền mặt 29.833,65 đồng/EUR, mua chuyển khoản 30.135,00 đồng/EUR và bán ra 31.406,38 đồng/EUR.

Bảng Anh dẫn nhóm ngoại tệ phổ biến

Bảng Anh (GBP) tiếp tục là đồng tiền có giá bán ra cao trong nhóm ngoại tệ phổ biến, đạt 35.633,10 đồng/GBP. Giá mua tiền mặt và mua chuyển khoản lần lượt là 34.182,20 đồng và 34.527,47 đồng.

Các đồng tiền châu Á đang niêm yết ra sao?

Tại thị trường châu Á, Yên Nhật (JPY) được niêm yết ở mức mua tiền mặt 160,61 đồng/JPY, mua chuyển khoản 162,23 đồng/JPY và bán ra 170,81 đồng/JPY.

Nhân dân tệ Trung Quốc (CNY) có giá mua tiền mặt 3.768,65 đồng/CNY, mua chuyển khoản 3.806,71 đồng/CNY và bán ra 3.928,61 đồng/CNY. Đồng won Hàn Quốc (KRW) được giao dịch quanh ngưỡng 15,33 - 18,48 đồng/KRW tùy hình thức mua bán.

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng neo ở mức cao

Đô la Australia (AUD) được niêm yết mua tiền mặt 18.303,45 đồng/AUD, mua chuyển khoản 18.488,34 đồng/AUD và bán ra 19.080,36 đồng/AUD.

Đô la Singapore (SGD) có giá mua tiền mặt 20.032,74 đồng/SGD, mua chuyển khoản 20.235,09 đồng/SGD và bán ra 20.924,87 đồng/SGD.

Trong khi đó, baht Thái Lan (THB) được giao dịch ở mức mua tiền mặt 710,52 đồng, mua chuyển khoản 789,47 đồng và bán ra 822,94 đồng mỗi baht.

Nhóm châu Âu và Bắc Mỹ: CHF, CAD vẫn đáng chú ý

Ở nhóm ngoại tệ châu Âu và Bắc Mỹ, đô la Canada (CAD) được niêm yết mua tiền mặt 18.676,38 đồng/CAD, mua chuyển khoản 18.865,03 đồng/CAD và bán ra 19.469,12 đồng/CAD.

Franc Thụy Sĩ (CHF) duy trì mặt bằng giá cao với mức bán ra 34.025,82 đồng/CHF, còn giá mua tiền mặt và mua chuyển khoản lần lượt là 32.640,37 đồng và 32.970,07 đồng.

Một số ngoại tệ khác đang được niêm yết

Ngân hàng cũng niêm yết nhiều ngoại tệ khác như đô la Hong Kong (HKD) ở mức mua tiền mặt 3.271,46 đồng và bán ra 3.430,85 đồng; krone Đan Mạch (DKK) mua chuyển khoản 4.021,93 đồng, bán ra 4.175,70 đồng; rupee Ấn Độ (INR) mua chuyển khoản 273,12 đồng, bán ra 284,88 đồng.

Dinar Kuwait (KWD) tiếp tục là đồng tiền có giá trị cao nhất trong bảng niêm yết, với mức mua chuyển khoản lên tới 85.426,84 đồng/KWD và bán ra 89.567,04 đồng/KWD.

Bên cạnh đó, ringgit Malaysia (MYR) được giao dịch ở mức 6.560,81 - 6.703,51 đồng/MYR; krone Na Uy (NOK) ở mức 2.771,57 - 2.889,07 đồng/NOK; rúp Nga (RUB) từ 344,37 - 381,20 đồng/RUB; riyal Saudi Arabia (SAR) từ 6.984,58 - 7.285,15 đồng/SAR và krona Thụy Điển (SEK) từ 2.727,83 - 2.843,48 đồng/SEK.

Bạn đang theo dõi đồng tiền nào nhiều nhất? Comment bên dưới nhé!

#BangAnh #Euro #NganHang #TyGiaNgoaiTe #Usd

Xem thêm
Kiều Phong @kieuphong · 18/05/2026

Cao tốc TP.HCM - Chơn Thành: Hạ tầng đẩy bất động sản Bắc TP.HCM

Cao tốc TP.HCM - Thủ Dầu Một - Chơn Thành dài gần 70 km đang được xem là cú hích lớn cho hạ tầng và bất động sản khu vực Bắc TP.HCM, kết nối trung tâm kinh tế TP.HCM với Bình Dương, Bình Phước.

Cao tốc TP.HCM - Chơn Thành có gì đáng chú ý?

Tuyến đường này được quy hoạch hoàn chỉnh từ 6–8 làn xe, vận tốc thiết kế 100 km/h. Giai đoạn 1 đang triển khai với 4 làn xe cao tốc cùng làn dừng khẩn cấp, dự kiến hoàn thành vào năm 2027.

Tuyến đi qua nhiều khu vực công nghiệp trọng điểm như Thuận An, Tân Uyên, Bắc Tân Uyên, Phú Giáo và Bàu Bàng. Khởi công từ đầu năm 2025, dự án được kỳ vọng sẽ giảm áp lực cho Quốc lộ 13 vốn thường xuyên quá tải.

Tác động đến bất động sản khu vực ra sao?

Với các khu vực như Bắc Tân Uyên hay Phước Hòa, thời gian kết nối về trung tâm TP.HCM dự kiến chỉ còn khoảng 30–45 phút. Khi khoảng cách di chuyển được rút ngắn, bất động sản vệ tinh quanh tuyến cao tốc có thêm dư địa để thu hút nhu cầu ở thực và đầu tư.

Động lực từ làn sóng dịch chuyển công nghiệp

Không chỉ là tuyến giao thông, cao tốc TP.HCM - Chơn Thành còn được kỳ vọng trở thành mắt xích quan trọng trong mạng lưới logistics liên vùng khi kết nối với Vành đai 3, Vành đai 4, cảng biển và sân bay quốc tế.

Trong bối cảnh công nghiệp dịch chuyển mạnh, Bắc TP.HCM đang nổi lên như một trung tâm sản xuất mới nhờ quỹ đất lớn và hạ tầng ngày càng hoàn thiện. Sự hiện diện của các tập đoàn quốc tế như LEGO, Pandora, THACO cùng các khu công nghiệp thế hệ mới như VSIP III, khu công nghiệp Cổng Xanh, khu công nghiệp Tam Lập đang tạo lực hút rõ rệt cho khu vực này.

Theo các chuyên gia, nơi hình thành các đại đô thị công nghiệp quy mô lớn cũng là nơi phát sinh nhu cầu về nhà ở, thương mại và dịch vụ cho chuyên gia, kỹ sư, lao động chất lượng cao. Quy luật “hạ tầng đi trước, bất động sản tăng trưởng theo sau” đang được kỳ vọng tiếp tục lặp lại ở Bắc TP.HCM.

Khu đô thị Bắc Sài Gòn hưởng lợi gì?

Trong bối cảnh hạ tầng tăng tốc, Khu đô thị Bắc Sài Gòn quy mô 41,9 ha có lợi thế khi nằm trên mặt tiền ĐT741 và liền kề nút kết nối cao tốc TP.HCM - Chơn Thành.

Dự án nằm ngay giao lộ của 2 tuyến đường huyết mạch ĐT 741Cao tốc Chơn Thành – TP.HCM, qua đó được kỳ vọng gia tăng giá trị khi dòng vốn công nghiệp và nhu cầu an cư tiếp tục dịch chuyển về phía Bắc TP.HCM.

Dự án được định hướng theo mô hình compound khép kín với hệ sinh thái 39 tiện ích nội khu, gồm công viên trung tâm rộng 10.000 m2, hồ bơi, sân golf mini, khu thể thao và các tiện ích phục vụ giáo dục, y tế.

Vì sao nhiều nhà đầu tư đang chú ý?

Trong khi mặt bằng giá bất động sản tại các đô thị công nghiệp như Thuận An hay Dĩ An đã tăng mạnh trong những năm gần đây, nhiều khu vực mới tại Bắc TP.HCM vẫn đang giữ mức giá được xem là còn dư địa tăng trưởng.

Đây là lý do khu vực này được nhìn nhận như một điểm đến đáng theo dõi trong trung và dài hạn, nhất là khi hạ tầng liên kết vùng tiếp tục hoàn thiện.

Bạn nghĩ sao về cú hích từ cao tốc TP.HCM - Chơn Thành? Comment bên dưới nhé!

#BatDongSan #BatDongSanBacTphcm #CaoTocTphcmChonThanh #ChinhSachViMo #DauTu #DichChuyenCongNghiep #DuAnDauTu #HaTangGiaoThong #Hose #KinhTeSo #NganHang #PhatTrienKinhTe #SoLieuKinhTeViMo #TaiChinh #ThiTruongChungKhoan #ThongTinKinhTeVietNam #TinKinhTe #Vnindex

Xem thêm
Lan Trinh @lantrinh · 15/05/2026

Vietbank tăng vốn 44,4%, lên hơn 15.548 tỷ đồng

Vietbank vừa thông qua kế hoạch tăng vốn điều lệ lớn nhất từ trước tới nay, từ 10.769 tỷ đồng lên hơn 15.548 tỷ đồng, tương ứng mức tăng 44,4%.

Vietbank tăng vốn bằng 3 đợt phát hành

Theo nghị quyết HĐQT công bố ngày 13/5/2026, ngân hàng sẽ triển khai kế hoạch tăng vốn qua 3 đợt phát hành với tổng khối lượng gần 477,9 triệu cổ phiếu.

Đợt 1: Phát hành từ vốn chủ sở hữu

Vietbank dự kiến phát hành gần 107,7 triệu cổ phiếu để tăng vốn từ nguồn vốn chủ sở hữu, tương ứng tỷ lệ 10%. Với mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu, giá trị phát hành khoảng 1.077 tỷ đồng. Nguồn thực hiện đến từ lợi nhuận giữ lại và quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ tính đến cuối năm 2025.

Vietbank tăng vốn 44,4%, lên hơn 15.548 tỷ đồngVietbank tăng vốn 44,4%, lên hơn 15.548 tỷ đồng

Đợt 2: Chào bán cho cổ đông hiện hữu và nhà đầu tư mới

Ngân hàng lên kế hoạch chào bán khoảng 296,14 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu và nhà đầu tư mới với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, qua đó có thể huy động khoảng 2.961 tỷ đồng.

Toàn bộ số cổ phiếu phát hành ở đợt này đều không bị hạn chế chuyển nhượng, dự kiến triển khai trong quý II và III/2026.

Đợt 3: Phát hành ESOP

Vietbank cũng dự kiến phát hành ESOP hơn 74 triệu cổ phiếu, tương ứng tỷ lệ 5%, trị giá khoảng 740 tỷ đồng. Thời gian triển khai dự kiến từ cuối quý IV/2026. Cổ phiếu ESOP sẽ bị hạn chế chuyển nhượng trong vòng 1 năm kể từ ngày kết thúc phát hành.

Lộ trình hoàn tất từ quý II/2026 đến quý I/2027

Nếu hoàn tất toàn bộ kế hoạch, vốn điều lệ của Vietbank sẽ tăng gần 4.779 tỷ đồng, lên hơn 15.548 tỷ đồng. Quá trình tăng vốn dự kiến bắt đầu từ quý II/2026 và hoàn tất trong quý I/2027.

Song song với kế hoạch chuyển niêm yết sang HOSE

Ngân hàng cũng đang xúc tiến kế hoạch chuyển niêm yết cổ phiếu VBB từ UPCoM sang HOSE trong năm 2026 nhằm nâng cao tính minh bạch, mở rộng khả năng tiếp cận nhà đầu tư và gia tăng vị thế trên thị trường vốn.

Kế hoạch kinh doanh năm 2026 của Vietbank

Về kế hoạch hoạt động, Vietbank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 2.100 tỷ đồng, tăng 37,1% so với thực hiện năm 2025. Ngân hàng cũng dự kiến:

  • Tổng tài sản tăng 17%
  • Tổng dư nợ tín dụng tăng 23,6% lên 134.000 tỷ đồng
  • Huy động vốn tăng 23,9% lên 155.000 tỷ đồng
  • Tỷ lệ nợ xấu kiểm soát dưới 2,5%

Kết quả kinh doanh quý I/2026 ra sao?

Theo BCTC hợp nhất quý I/2026, Vietbank ghi nhận lợi nhuận trước thuế 167 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 131,43 tỷ đồng.

Trong kỳ, thu nhập lãi thuần đạt 768,1 tỷ đồng, tăng khoảng 9,3% so với cùng kỳ năm trước, tiếp tục là nguồn đóng góp chính cho hoạt động kinh doanh.

Chi phí hoạt động ở mức 445 tỷ đồng, tăng 46,4 tỷ đồng so với cùng kỳ, chủ yếu do đầu tư vào hạ tầng công nghệtái cấu trúc vận hành.

Tại ngày 31/3/2026, tổng tài sản của Vietbank đạt 190.211 tỷ đồng, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước. Dư nợ tín dụng đạt 111.393 tỷ đồng, tăng trưởng 14,5%. Tỷ lệ nợ xấu trên dư nợ được kiểm soát ở mức 2,13%.

Chi phí dự phòng trong quý I/2026 ở mức 194,86 tỷ đồng, tăng khoảng 64,6% so với mức 118,4 tỷ đồng cùng kỳ năm trước, cho thấy ngân hàng đang tăng cường bộ đệm rủi ro trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.

Bạn đánh giá thế nào về kế hoạch tăng vốn này của Vietbank? Comment bên dưới nhé!

#CoPhieuVbb #Hose #NganHang #TangVon #Upcom #Vbb #Vietbank #VonDieuLe

Xem thêm
Minh Tú BĐS @minhtubds · 14/05/2026

Ngân hàng và bất động sản nổi sóng, VN-Index lập đỉnh lịch sử mới

VN-Index tăng 27,09 điểm, lên 1.925,46 điểm và lập đỉnh lịch sử mới trong phiên hôm nay. Dòng tiền quay lại mạnh, tập trung rõ ở nhóm ngân hàngbất động sản - hai ngành dẫn dắt thị trường.

Ngân hàng hút tiền trở lại

Sau nhiều phiên giao dịch khá trầm lắng, nhóm cổ phiếu ngân hàng bất ngờ đồng loạt tăng giá. Nhiều mã ghi nhận sắc xanh tích cực như: VPB +3,24%, BID +1,75%, CTG +1,13%, VCB +1,5%, TCB +1,19%, ACB +1,33%, TPB +1,6%, MSB +1,84%, ...

Bất động sản là tâm điểm của phiên

Tâm điểm thị trường tiếp tục thuộc về nhóm bất động sản, đặc biệt là bộ ba cổ phiếu “họ” Vin. Trong đó, VIC +3,98%, VHM +2,95%, VRE +3,48% trở thành lực kéo quan trọng đưa VN-Index lên vùng đỉnh mới.

Theo sau, nhiều mã bất động sản và liên quan cũng tăng mạnh như: NLG +2,47%, KDH +1,93%, PDR +1,22%, DIG +1,37%, DGC +2,63%, CTD +4,16%, ...

Vì sao hai nhóm này ảnh hưởng lớn đến VN-Index?

Diễn biến khởi sắc của ngân hàngbất động sản góp phần quan trọng giúp thị trường duy trì đà tăng mạnh xuyên suốt phiên. Đây cũng là 2 nhóm ngành có sức ảnh hưởng lớn nhất đến chỉ số VN-Index hiện nay.

Ngoài ra, nhiều cổ phiếu vốn hóa lớn khác cũng tăng bứt phá, như: FPT +4,53%, GAS +2,2%, MCH +3,08%, VNM +1,35%, GEX +1,01%, TCX +2,1%, SSI +1,08%, ...

Khối ngoại quay lại mua ròng

Điểm tích cực khác là khối ngoại bất ngờ quay lại mua ròng sau nhiều phiên liên tiếp bán ròng. Tổng giá trị mua ròng trên cả ba sàn đạt hơn 200 tỷ đồng.

Trong đó, khối ngoại mua mạnh nhất VIC với giá trị hơn 163 tỷ đồng. Theo sau là MSN 142,95 tỷ đồng, SSI 85,74 tỷ đồng, BSR 79,13 tỷ đồng, ...

Ở chiều bán ra, khối ngoại xả mạnh nhất VHM với giá trị hơn 173 tỷ đồng. Theo sau là TCB 124,71 tỷ đồng, FPT 36,31 tỷ đồng, GEE 35,52 tỷ đồng, ...

Thị trường đang gửi tín hiệu gì?

Việc dòng vốn ngoại quay lại mua ròng trong bối cảnh VN-Index lập đỉnh lịch sử đang tiếp thêm động lực tâm lý cho nhà đầu tư, đồng thời củng cố kỳ vọng về xu hướng tăng của thị trường trong ngắn hạn.

Bạn nghĩ sao về nhịp tăng này của nhóm ngân hàng và bất động sản? Comment bên dưới nhé!

#BatDongSan #CoPhieuHoVin #KhoiNgoaiMuaRong #NganHang #Vnmindex

Xem thêm
Kiều Kiều @kieukieu · 14/05/2026

Ai đang sở hữu ngân hàng HDBank?

HDBank (HDB) đang thu hút sự chú ý khi ghi nhận ROE 25,4% - mức cao nhất toàn ngành ngân hàng. Nhưng phía sau tăng trưởng này là ai sở hữu HDBank và hệ sinh thái nào đang đứng sau?

HDBank đang thuộc về ai?

HDBank mang đậm dấu ấn của Sovico Group và nữ tỷ phú Nguyễn Thị Phương Thảo. Đây là một trong những hệ sinh thái tư nhân có ảnh hưởng lớn trong lĩnh vực tài chính, hàng không và bất động sản tại Việt Nam.

Khác với nhiều ngân hàng tư nhân có sự tham gia mạnh của quỹ ngoại hoặc cổ đông tổ chức nhà nước, HDBank hiện có cơ cấu sở hữu khá cô đặc quanh nhóm cổ đông liên quan Sovico.

Cơ cấu cổ đông chính hiện tại

- Cổ đông khác: 77,93%
- Công ty Cổ phần Sovico: 10,08%
- Phạm Văn Đậu: 3,92%
- Nguyễn Thị Phương Thảo: 3,42%
- Đào Duy Tường: 2,50%

Nhìn vào cơ cấu này, phần Cổ đông khác vẫn chiếm gần 78%, cho thấy HDBank vẫn duy trì tính đại chúng hóa cao trên thị trường.

Vì sao Sovico Group được xem là “hạt nhân”?

Dù tỷ lệ sở hữu trực tiếp không quá áp đảo, Sovico Group vẫn là trung tâm của cả hệ sinh thái, gồm Vietjet Air, HD Saison, Phú Long cùng nhiều doanh nghiệp tài chính, bất động sản và dịch vụ khác.

Điều này giúp HDBank trở thành một trong số ít ngân hàng tại Việt Nam có hệ sinh thái khách hàng rất lớn và khả năng tự tạo dòng tiền nội bộ.

Quy mô hoạt động hiện tại của HDB

HDB đang sở hữu:
- 371 chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn quốc
- Hơn 26.000 điểm bán hàng/điểm giao dịch (POS) phủ rộng 63/63 tỉnh thành
- Phục vụ trên 25 triệu khách hàng

Nói cách khác, HDBank không chỉ là một ngân hàng thương mại thông thường mà đang đóng vai trò như trung tâm tài chính của cả hệ sinh thái Sovico.

Động lực tăng trưởng nào đang được thị trường chú ý?

Một điểm đáng chú ý là HDBank đang có tiềm năng tăng trưởng lớn từ câu chuyện nhận chuyển giao bắt buộc Vikki Bank. Nếu hoàn tất, HDBank có thể được cấp hạn mức tăng trưởng tín dụng khoảng 30–35%, cao hơn mặt bằng chung của ngành ngân hàng hiện nay.

Trong bối cảnh nhiều ngân hàng đang dần chạm giới hạn tăng trưởng tín dụng, đây là lợi thế đáng kể để HDBank:

- Mở rộng nhanh quy mô tài sản
- Tăng tốc cho vay
- Cải thiện thị phần

Thị trường đang kỳ vọng gì tiếp theo?

Thị trường cũng đang theo dõi kế hoạch IPO của HD SaisonChứng khoán HDBS. Nếu IPO thành công, giá trị hệ sinh thái của HDBank có thể được định giá lại trong tương lai.

Trong đó, HD Saison hiện là một trong những công ty tài chính tiêu dùng lớn nhất Việt Nam, có lợi thế mạnh ở phân khúc khách hàng đại chúng.

Kết luận

HDBank đang là một trong những ngân hàng có câu chuyện tăng trưởng đáng chú ý nhất hiện nay, nhờ sự hậu thuẫn từ hệ sinh thái Sovico, động lực tín dụng từ Vikki Bank và tiềm năng IPO của HD Saison, HDBS.

Bạn nghĩ sao về cơ cấu sở hữu và dư địa tăng trưởng của HDBank? Comment bên dưới nhé!

CRE Trần Phương Anh

#Hdbank #NganHang #NguyenThiPhuongThao #Sovico #Vietjet

Xem thêm
Tải thêm
Nhịp Sống Nhà Đất

Chia sẻ bài viết