#TangTruongTinDung
An Nhiên @annhien · 15/06/2026

Lãi suất đầu vào tăng, ngân hàng trước áp lực chi phí vốn và nợ xấu

Lãi suất đầu vào đã lên mặt bằng mới, kéo theo áp lực chi phí vốn, NIM và rủi ro nợ xấu của ngân hàng. Dù vậy, Chứng khoán Shinhan vẫn dự báo lợi nhuận trước thuế toàn ngành tăng 17% năm 202616% năm 2027.

Ngân hàng vẫn tăng trưởng, nhưng biên lợi nhuận chịu sức ép

Trong báo cáo triển vọng ngành ngân hàng giai đoạn 2026 - 2027, Chứng khoán Shinhan giả định tăng trưởng tín dụng đạt 15% trong cả giai đoạn 2026 - 2027, còn biên lãi ròng (NIM) duy trì quanh mức 3,15%.

Theo kịch bản thận trọng, tỷ lệ nợ xấu có thể quay trở lại xu hướng tăng trong năm 2027 khi mặt bằng lãi suất tăng trở lại. Trên cơ sở đó, lợi nhuận trước thuế của nhóm ngân hàng niêm yết trên HOSE được dự báo tăng khoảng 17% trong năm 2026 và tiếp tục tăng 16% trong năm 2027.

Lãi suất huy động, liên ngân hàng và trái phiếu cùng tăng

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất tiền gửi tăng vào những tháng cuối năm 2025 và đầu năm 2026, kỳ hạn 6 - 12 tháng tăng 120 điểm cơ bản tính tới cuối tháng 3/2026.

Chứng khoán Shinhan cho biết các ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân trong cùng giai đoạn tăng mạnh 200 điểm cơ bản, còn các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước tăng khoảng 100 điểm cơ bản. Đây là số liệu lãi suất công bố online trên website ngân hàng, thực tế có thể cao hơn số công bố online.

Sau cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước, mức lãi suất kỳ hạn 12 tháng tại các ngân hàng đã giảm nhẹ khoảng 0,5% từ mức đỉnh. Tuy nhiên, nhiều lãnh đạo ngân hàng cho biết dư địa giảm thêm không còn nhiều cho phần còn lại của năm 2026.

Huy động phân hóa rõ giữa các nhóm ngân hàng

Chứng khoán Shinhan ghi nhận tăng trưởng tiền gửi có sự phân hóa đáng kể. Các ngân hàng có kế hoạch tăng trưởng cho vay cao như VPBank hay HDBank đã đẩy mạnh huy động tiền gửi với nhiều gói lãi suất ưu đãi, qua đó giúp tăng trưởng huy động mạnh mẽ trong quý I/2026.

Ngược lại, các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước duy trì mặt bằng lãi suất tiền gửi thấp hơn mặt bằng chung, khiến mức huy động thấp hơn trung bình ngành và tạo áp lực lên tỷ lệ LDR vào cuối quý I/2026.

Bên cạnh đó, lãi suất phát hành trái phiếu của ngân hàng cũng được nâng lên mặt bằng mới. Các đợt phát hành vào cuối quý III/2025 được ghi nhận quanh mức 6%, thì các đợt phát hành trong tháng 4/2026 hiện đã tăng lên quanh mức 8 - 9%.

Huy động giấy tờ có giá tiếp tục được đẩy mạnh tại phần lớn các ngân hàng, tổng quan cả ngành tăng trưởng 10,54% so với cuối năm 2025.

BIDV, ACB, VPBank, HDBank, NamABank hay SeABank là các ngân hàng có mức huy động giấy tờ có giá mạnh hơn trung bình toàn ngành.

Ngoài ra, lãi suất liên ngân hàng sau giai đoạn biến động mạnh vào các phiên trước Tết do tính mùa vụ đã ổn định trở lại và giao dịch quanh vùng 5 - 6% trong tháng 4 - 5/2026. Tuy nhiên, thị trường vẫn xuất hiện những biến động bất ngờ khi lãi suất có thời điểm tăng vọt lên khoảng 11% vào đầu tháng 6/2026.

Chi phí vốn tăng, NIM bị nén

Theo Chứng khoán Shinhan, chi phí vốn tăng đã nhanh chóng phản ánh vào báo cáo tài chính của các ngân hàng, trong khi lãi suất cho vay đầu ra chưa tăng tương ứng. Xu hướng này đang gây áp lực lên NIM của nhiều ngân hàng trong quý I/2026.

Tại các cuộc họp nhà đầu tư, ban lãnh đạo hầu hết ngân hàng đều nhận định NIM sẽ tiếp tục gặp áp lực trong năm 2026 và có thể giảm nhẹ.

Nhóm phân tích Chứng khoán Shinhan nhận định: “Với mặt bằng lãi suất tăng, các ngân hàng sẽ càng phải cạnh tranh nhau trong phần còn lại của năm, đặc biệt là các ngân hàng có mức tăng trưởng huy động tiền gửi âm trong quý I/2026”.

Nợ xấu và nợ nhóm 2: điểm cần theo dõi sát

Sau giai đoạn xử lý nợ xấu vào cuối năm, tỷ lệ nợ xấu của toàn ngành tăng nhẹ cuối quý I/2026 nhưng nếu so với mốc quý III/2025, tỷ lệ nợ xấu đi ngang và ở mức 1,9%.

Trong giai đoạn này, Sacombank có sự gia tăng mạnh về ghi nhận nợ xấu và trích lập 100% liên quan tới Bamboo Airways. Các ngân hàng còn lại nhìn chung không có quá nhiều thay đổi về tỷ lệ nợ xấu nếu so với cuối quý III/2025.

Nợ nhóm 2 tăng nhẹ trong quý I/2026, tuy vậy đây thường mang yếu tố mùa vụ sau giai đoạn xử lý tài sản thường được thực hiện mạnh mẽ vào quý IV hàng năm.

Chứng khoán Shinhan lưu ý, mặt bằng lãi suất tăng cao hơn thông thường sẽ gây áp lực lên chất lượng tài sản của toàn ngành trong các quý, năm sau đó. Vì vậy, chất lượng tài sản, đặc biệt là sự hình thành nợ nhóm 2, sẽ là yếu tố quan trọng cần theo dõi trong giai đoạn tới.

Bạn nghĩ sao về mặt bằng lãi suất và áp lực nợ xấu của ngân hàng thời gian tới? Comment bên dưới nhé!

#ChungKhoanShinhan #DuBaoLoiNhuanNganhNganHang #LaiSuat #LaiSuatPhatHanhTraiPhieu #LaiSuatTienGui #NganHang #NimNganHang #NoXauNganhNganHang #TangTruongTinDung #TrienVongNganhNganHang

Xem thêm
Nhịp Sống Nhà Đất @manhcuongnhadat · 04/06/2026

Tổng tài sản ngân hàng quý I/2026: 8 nhà băng vượt 1 triệu tỷ đồng

Quý I/2026 ghi nhận 8 ngân hàng có tổng tài sản trên 1 triệu tỷ đồng, trong khi có tới 9 ngân hàng bị sụt giảm quy mô so với cuối năm 2025.

8 ngân hàng có tổng tài sản trên 1 triệu tỷ đồng

Đến hết quý I/2026, có 7 ngân hàng thương mại cổ phần sở hữu tổng tài sản từ 1 triệu tỷ đồng trở lên. Nếu tính cả Agribank, con số này là 8 ngân hàng, không đổi so với cuối năm 2025.

Các ngân hàng thương mại cổ phần trong nhóm này gồm: BIDV 3,32 triệu tỷ đồng, VietinBank 2,89 triệu tỷ đồng, Vietcombank 2,53 triệu tỷ đồng, MB 1,52 triệu tỷ đồng, VPBank 1,27 triệu tỷ đồng, Techcombank 1,11 triệu tỷ đồngACB 1 triệu tỷ đồng.

Ngoài ra, HDBank đang tiến sát ngưỡng 1 triệu tỷ đồng, còn SHB đã vượt mốc 900 nghìn tỷ đồng.

9 ngân hàng bị giảm tổng tài sản

So với cuối năm 2025, tổng tài sản của nhiều ngân hàng bị suy giảm đáng kể. Thống kê cho thấy có đến 9 ngân hàng ghi nhận sự sụt giảm.

Các ngân hàng bị hao hụt gồm: Sacombank giảm hơn 58.000 tỷ đồng (6,4%), LPBank giảm gần 25.000 tỷ đồng (4%), Nam A Bank giảm 9.000 tỷ đồng (2,1%), Techcombank giảm 7.800 tỷ đồng (0,69%), VietBank giảm 6.500 tỷ đồng (3,3%), Eximbank giảm 3.300 tỷ đồng (1,2%), Bac A Bank giảm 2.250 tỷ đồng (1,15%), PGBank giảm 2.170 tỷ đồng (2,4%), BaoViet Bank giảm 594 tỷ đồng (0,53%).

Ngân hàng nào tăng mạnh nhất?

Ngược lại, VietinBank, Vietcombank và VPBank là 3 ngân hàng ghi nhận mức tăng mạnh nhất về quy mô tổng tài sản, với mức tăng thêm trên trăm nghìn tỷ đồng.

Cụ thể, VietinBank tăng 154 nghìn tỷ đồng (5,63%) lên 2,89 triệu tỷ đồng, tiến sát mốc 3 triệu tỷ đồng. Vietcombank tăng 109 nghìn tỷ đồng (4,48%) lên 2,53 triệu tỷ đồng. VPBank tăng 104 nghìn tỷ đồng (9%) lên 1,27 triệu tỷ đồng.

BIDV vẫn là ngân hàng có quy mô tổng tài sản lớn nhất hệ thống, đạt 3,32 triệu tỷ đồng, đồng thời đứng thứ tư trong nhóm tăng mạnh nhất quý I với mức tăng hơn 57 nghìn tỷ đồng.

Các ngân hàng tăng mạnh quy mô tổng tài sản trong quý I còn có SHB, HDBank, ABBank, PVcomBank, TPBank, OCB...

Tổng tài sản toàn ngành đang ở mức nào?

Theo thống kê, tổng tài sản của 29 ngân hàng thương mại cổ phần trong nước đến hết quý I/2026 là 21,626 triệu tỷ đồng. Nếu tính cả Agribank, tổng tài sản của 30 ngân hàng đạt khoảng 24 triệu tỷ đồng.

Tổng tài sản của ngân hàng bao gồm tiền mặt, tiền gửi tại NHNN, cho vay khách hàng, chứng khoán đầu tư, góp vốn đầu tư và các tài sản khác.

Vì sao quy mô tài sản vẫn tăng ở nhiều ngân hàng?

Trong cơ cấu tổng tài sản, dư nợ tín dụng chiếm tỷ trọng lớn nhất. Tăng trưởng tín dụng năm 2025 đạt 19,01% đã tạo nền tảng cho nhiều ngân hàng mở rộng quy mô tài sản trong năm 2025 và những tháng đầu năm 2026.

Nhóm MB, VPBank, HDBank và Vietcombank được phân bổ room tín dụng cao hơn nhờ việc nhận chuyển giao các ngân hàng yếu kém. Vì vậy, nhóm này ghi nhận mức tăng trưởng tài sản tích cực trong năm 2025 và tiếp tục duy trì đà mở rộng trong quý I/2026.

Bảng tổng tài sản các ngân hàng đến 31/3/2026

BIDV: 3.323.029.224 triệu đồng, thay đổi 1,76%
VietinBank: 2.889.565.602 triệu đồng, thay đổi 5,64%
Vietcombank: 2.535.176.624 triệu đồng, thay đổi 4,49%
MB: 1.529.352.857 triệu đồng, thay đổi 0,05%
VPBank: 1.274.900.062 triệu đồng, thay đổi 8,88%
Techcombank: 1.117.935.029 triệu đồng, thay đổi -0,70%
ACB: 1.002.154.481 triệu đồng, thay đổi 0,17%
HDBank: 966.836.149 triệu đồng, thay đổi 5,87%
SHB: 924.801.670 triệu đồng, thay đổi 4,47%
Sacombank: 850.106.259 triệu đồng, thay đổi -6,44%
LPBank: 580.859.917 triệu đồng, thay đổi -4,08%
VIB: 566.171.474 triệu đồng, thay đổi 1,43%
TPBank: 519.008.835 triệu đồng, thay đổi 4,42%
MSB: 416.181.892 triệu đồng, thay đổi 1,27%
Nam A Bank: 409.593.127 triệu đồng, thay đổi -2,17%
SeABank: 403.819.082 triệu đồng, thay đổi 1,70%
OCB: 344.567.455 triệu đồng, thay đổi 6,51%
PVcomBank: 272.758.633 triệu đồng, thay đổi 9%
Eximbank: 270.209.557 triệu đồng, thay đổi -1,21%
ABBank: 250.098.279 triệu đồng, thay đổi 13,50%
Bac A Bank: 193.676.442 triệu đồng, thay đổi -1,15%
VietBank: 190.401.665 triệu đồng, thay đổi -3,33%
NCB: 173.617.466 triệu đồng, thay đổi 6,04%
Viet A Bank: 142.363.631 triệu đồng, thay đổi 1,36%
BVBank: 136.964.944 triệu đồng, thay đổi 2,87%
BaoViet Bank: 110.041.656 triệu đồng, thay đổi -0,54%
KienlongBank: 109.219.947 triệu đồng, thay đổi 5,47%
PGBank: 86.711.063 triệu đồng, thay đổi -2,44%
SaigonBank: 36.115.854 triệu đồng, thay đổi 0,36%

Bạn thấy nhóm ngân hàng nào đang có đà mở rộng đáng chú ý nhất? Comment bên dưới nhé!

#DuNoChoVay #DuNoTinDung #NganHang #TaiSanNganHang #TangTruongTinDung #TongTaiSanNganHang

Xem thêm
Nhịp Sống Nhà Đất

Chia sẻ bài viết