#QuyI
Nhã Nhi @nhanhi · 09/05/2026

Trái phiếu doanh nghiệp: Áp lực đáo hạn và chi phí vốn là rào cản lớn

Ngày 8-5, Tổ chức FiinRatings công bố Báo cáo Tâm điểm Thị trường Trái phiếu Doanh nghiệp quý 1 với chủ đề “Thị trường trái phiếu doanh nghiệp trong bối cảnh biến động lãi suất." Báo cáo chỉ ra những tín hiệu khởi sắc về giá trị phát hành song vẫn đan xen với những áp lực hiện hữu từ mặt bằng lãi suất cao và nghĩa vụ nợ đến hạn.

Trái phiếu doanh nghiệp: Áp lực đáo hạn và chi phí vốn là rào cản lớn

Sự phân hóa trong cấu trúc huy động

Theo báo cáo, đây là giai đoạn thị trường đang tự điều chỉnh và phân hóa mạnh mẽ để thích nghi với môi trường kinh doanh mới.

Trong ba tháng đầu năm, giá trị phát hành trái phiếu doanh nghiệp đạt 40,3 nghìn tỷ đồng, tăng tới 60,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Mặc dù con số này cho thấy sự ấm lại của kênh huy động vốn dài hạn, nhưng nếu đặt trong tương quan với các quý liền trước, tốc độ phát hành đang có dấu hiệu chậm lại đáng kể. Phân tích từ báo cáo quý 1 vốn được xem là giai đoạn thấp điểm theo chu kỳ, thêm vào đó hoạt động phát hành năm nay cũng khó có thể bùng nổ do tâm lý thận trọng của các nhà phát hành trước biến động của lãi suất.

Trên thị trường, mặt bằng lãi suất tăng đã tác động trực tiếp đến lãi suất coupon (lãi suất danh nghĩa). Dữ liệu từ FiinRatings chỉ ra lãi suất coupon bình quân của nhóm tổ chức tín dụng đã tăng thêm 67,8 điểm cơ bản, trong khi nhóm bất động sản cũng ghi nhận mức tăng 40 điểm cơ bản. Diễn biến này phản ánh chi phí vốn gia tăng và sự thay đổi trong kỳ vọng của nhà đầu tư về mức bù rủi ro trước áp lực thanh khoản.

Sự biến động của lãi suất không chỉ dừng lại ở thị trường sơ cấp mà còn lan tỏa sang thị trường thứ cấp. Lợi suất đáo hạn bình quân (YTM) trong quý 1 tăng lên, phản ánh lo ngại của thị trường về khả năng thanh khoản trong ngắn hạn.

Chuyên gia phân tích tại FiinRatings nhận định mức độ ảnh hưởng của mặt bằng lãi suất sẽ phụ thuộc rất lớn vào hồ sơ năng lực của từng doanh nghiệp. Với những đơn vị sở hữu dự án có pháp lý hoàn thiện và xếp hạng tín nhiệm cao, họ vẫn giữ được vị thế thương thảo tốt để áp dụng các cấu trúc lãi suất bậc thang hoặc biên độ thấp, tạo lợi thế chi phí so với lãi suất vay ngân hàng hiện tại.

Trong cấu trúc phát hành quý này, các doanh nghiệp phi ngân hàng đóng vai trò dẫn dắt khi chiếm tới 70,4% tổng giá trị.

Ngược lại với sự sôi động của khối phi tài chính, các ngân hàng thương mại lại tỏ ra khá dè dặt trong việc phát hành trái phiếu mới. Thay vì đẩy mạnh kênh này, các tổ chức tín dụng ưu tiên huy động qua các kênh ngắn hạn linh hoạt hơn để đối phó với áp lực thanh khoản hệ thống.

Thực tế, lãi suất phát hành trái phiếu ngân hàng hiện đã tiệm cận mức 7%/năm, gần sát với lợi suất cho vay, điều này trực tiếp gây sức ép lên biên lợi nhuận (NIM) của các ngân hàng. Về phương thức phát hành, dù kênh phát hành ra công chúng có lợi thế rõ rệt về chi phí đối với nhóm phi tài chính, nhưng phát hành riêng lẻ vẫn chiếm ưu thế tuyệt đối với hơn 90% tổng giá trị. Sự lựa chọn này phản ánh ưu tiên của doanh nghiệp về tốc độ và tính linh hoạt.

Triển vọng phục hồi

Bên cạnh những điểm sáng về quy mô, thị trường vẫn đang phải đối mặt với bài toán thanh toán cam go. Theo báo cáo, trong ba tháng đầu năm, tổng giá trị trái phiếu có vấn đề đạt 12,8 nghìn tỷ đồng, tăng 6,3% so với cùng kỳ. Nhóm bất động sản và năng lượng tiếp tục là tâm điểm khi lần lượt chiếm 54,6% và 43,4% giá trị trái phiếu gặp khó khăn.

Nhiều doanh nghiệp trong số này đã có sức khỏe tài chính suy yếu từ nhiều năm trước và chịu ảnh hưởng dây chuyền từ các hệ sinh thái tập đoàn đang trong quá trình tái cấu trúc. Áp lực thực sự sẽ dồn vào hai quý tiếp theo khi khối lượng trái phiếu đến hạn đạt mức rất cao với 42,2 nghìn tỷ đồng trong quý 2 và 73,3 nghìn tỷ đồng trong quý 3. Trong đó, ngành bất động sản chiếm tới hơn 57% giá trị đáo hạn.

Chuyên gia của FiinRatings cũng dự báo trong bối cảnh lãi suất huy động khó giảm nhanh và lãi suất cho vay có độ trễ truyền dẫn, các doanh nghiệp sẽ phải chịu áp lực kép về chi phí vốn. Điều này đòi hỏi các chủ thể phát hành phải chủ động hơn trong việc cân đối dòng tiền hoặc sớm đàm phán với trái chủ để giãn, hoãn nợ hoặc chuyển đổi nghĩa vụ nợ nhằm tránh kịch bản đổ vỡ thanh khoản.

Về triển vọng vĩ mô, lãi suất huy động tại các ngân hàng dù có dấu hiệu hạ nhiệt nhẹ vào đầu quý 2 sau các nỗ lực điều hành của Ngân hàng Nhà nước, nhưng dư địa giảm sâu vẫn bị hạn chế bởi nhiều yếu tố ngoại biên. Những bất ổn địa chính trị tại khu vực Trung Đông không chỉ đe dọa chuỗi cung ứng mà còn gây áp lực lên lạm phát và tỷ giá, buộc cơ quan quản lý phải thận trọng trong việc nới lỏng chính sách tiền tệ. Dự kiến, lãi suất cho vay sẽ chỉ có thể bắt đầu giảm thực chất từ cuối quý 2 hoặc đầu quý 3 khi các khoản vốn huy động lãi suất cao trước đó dần được hấp thụ hết.

Dù còn nhiều khó khăn, song báo cáo chỉ ra những khung chính sách mới đang dần đi vào thực tế sẽ tạo ra những thay đổi về chất cho thị trường.

Nhìn chung, thị trường thị trường trái phiếu doanh nghiệp quý 1 đã cho thấy khả năng chống chịu đáng kể trước những cơn gió ngược từ thị trường tài chính. Dù áp lực đáo hạn và chi phí vốn vẫn là những rào cản lớn trong ngắn hạn, nhưng với sự linh hoạt của doanh nghiệp và sự hỗ trợ từ chính sách điều hành, báo cáo đưa ra nhận định kênh trái phiếu vẫn được kỳ vọng sẽ sớm trở lại vai trò là nguồn vốn chiến lược, giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong cấu trúc tài chính dài hạn.

Theo TTXVN

#CauTruc #DaoHan #HoanNo #LaiSuat #LoiSuat #PhanHoa #QuyI #ThiTruongSoCap #TraiPhieu #TraiPhieuDoanhNghiep

Xem thêm
Kiều Kiều @kieukieu · 28/04/2026

BIDV lãi quý I tăng 15%, nợ xấu lên 42.654 tỷ đồng

BIDV lãi trước thuế 8.572 tỷ đồng trong quý I/2026, tăng 15,63% so với cùng kỳ, nhưng nợ xấu cũng tăng lên 42.654 tỷ đồng, tương đương tỷ lệ 1,76%.

Kết quả kinh doanh quý I/2026: lãi vẫn tăng hai chữ số

Theo BCTC quý I/2026, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV, mã: BID) ghi nhận lợi nhuận tiếp tục tăng trưởng trong bối cảnh chi phí vốn và dự phòng rủi ro cùng đi lên.

Thu nhập lãi và các khoản tương tự đạt 42.960 tỷ đồng, tăng 21,75%. Tuy nhiên, chi phí lãi tăng nhanh hơn, lên 27.226 tỷ đồng, tăng 27,58%, khiến thu nhập lãi thuần đạt 15.734 tỷ đồng, tăng 12,82%.

Nguồn thu ngoài lãi diễn biến ra sao?

Các mảng ngoài lãi có sự phân hóa: lãi thuần từ dịch vụ đạt 1.625 tỷ đồng, tăng 5,59%; kinh doanh ngoại hối và vàng đạt 1.108 tỷ đồng, tăng 28,24%; hoạt động khác đạt 2.067 tỷ đồng, tăng 69,98%.

Ở chiều ngược lại, mảng chứng khoán kinh doanh chuyển từ lãi 214 tỷ đồng sang lỗ 27 tỷ đồng, trong khi chứng khoán đầu tư lỗ 11 tỷ đồng.

Chi phí hoạt động ở mức 6.628 tỷ đồng, tăng 12,21%. Nhờ đó, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước chi phí dự phòng đạt 14.070 tỷ đồng, tăng 17,33%.

Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng 20,10%, lên 5.498 tỷ đồng, tiếp tục tạo áp lực lên kết quả chung. Kết thúc quý I/2026, BIDV ghi nhận lợi nhuận trước thuế 8.572 tỷ đồng, tăng 15,63%; lợi nhuận sau thuế đạt 6.879 tỷ đồng, tăng 15,52% so với cùng kỳ năm 2025.

Quy mô tài sản, tín dụng và tiền gửi biến động thế nào?

Tại ngày 31/03/2026, tổng tài sản của BIDV đạt 3.388.222 tỷ đồng, tăng 1,72% so với cuối năm 2025. Dư nợ cho vay khách hàng đạt 2.392.549 tỷ đồng, tăng 2,33%, trong khi tiền gửi khách hàng giảm 3,70%, còn 2.140.961 tỷ đồng.

Diễn biến này cho thấy áp lực huy động vốn vẫn hiện hữu trong bối cảnh cạnh tranh lãi suất trên thị trường.

Nợ xấu tăng lên mức nào?

Tính trên dư nợ cho vay khách hàng, tổng nợ xấu của BIDV đạt 42.654 tỷ đồng, tăng 21,95% so với cuối năm 2025. Tỷ lệ nợ xấu theo đó tăng từ 1,47% lên 1,76%, tăng 0,29 điểm %.

Nguyên nhân chính đến từ nợ dưới tiêu chuẩn tăng mạnh lên 10.117 tỷ đồng.

Mục tiêu năm 2026 của BIDV là gì?

Tại Đại hội đồng cổ đông năm 2026, BIDV đặt mục tiêu tổng tài sản tăng 5-10% trong năm nay. Dư nợ tín dụng thực hiện theo hạn mức được Ngân hàng Nhà nước phê duyệt, còn chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế phụ thuộc vào phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền.

Ngân hàng đặt mục tiêu kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 1,6%.

Đại hội cũng thông qua phương án tăng vốn điều lệ từ 70.213 tỷ đồng lên tối đa 99.558 tỷ đồng, thông qua phát hành cổ phiếu từ quỹ dự trữ, trả cổ tức bằng cổ phiếu và chào bán thêm cổ phần cho nhà đầu tư trong giai đoạn từ năm 2026-2027.

Nhân sự BIDV có thay đổi gì?

Về nhân sự, ông Yoo Je Bong không còn đại diện phần vốn của Keb Hana Bank và chấm dứt vai trò thành viên Hội đồng quản trị từ ngày 24/04/2026. Ông Kim Sang Soo được đề cử thay thế.

Ngân hàng Nhà nước cũng đã thông báo ông Phan Đức Tú, Chủ tịch Hội đồng quản trị BIDV, sẽ nghỉ hưu từ ngày 1/7/2026. HĐQT BIDV trình đại hội bầu bổ sung hai thành viên mới, gồm ông Kim Sang Soo và ông Hoàng Việt Hùng, Phó Tổng giám đốc BIDV.

Bạn đánh giá thế nào về kết quả quý I của BIDV khi lợi nhuận tăng nhưng nợ xấu cũng đi lên? Comment bên dưới nhé!

#Bid #Bidv #LoiNhuan #NganHang #NoXau #QuyI

Xem thêm
An Nhiên @annhien · 21/04/2026

Chứng khoán Vietcap thua lỗ nặng ở FPT

Quý I, Chứng khoán Vietcap (VCI) báo lãi sau thuế 341 tỷ đồng, tăng 15,9% so với cùng kỳ. Động lực tăng trưởng đến từ mảng môi giới và cho vay, trong khi tự doanh lại là điểm trừ khi lãi ròng từ FVTPL chỉ còn 14,77 tỷ đồng, giảm mạnh so với 247,4 tỷ đồng cùng kỳ năm trước.

Nhìn theo góc độ thị trường tài chính, đây là một bức tranh khá giống nhiều giai đoạn bất động sản: khi dòng tiền không còn “dễ thở”, hiệu quả từ từng mảng kinh doanh sẽ phân hóa rõ. Với Vietcap, quý I cho thấy mảng môi giới đang đóng vai trò như một “điểm neo” quan trọng trong bối cảnh thị trường biến động khó lường.

Doanh thu quý I của Vietcap đạt 1.406,4 tỷ đồng, tăng 65% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, các mảng chính đều ghi nhận tăng trưởng đáng kể: lãi từ bán các tài sản tài chính ghi nhận thông qua lãi/lỗ (FVTPL) đạt 504 tỷ đồng, tăng 42%; lãi từ các khoản cho vay và phải thu tăng 61% lên 414,5 tỷ đồng; doanh thu nghiệp vụ môi giới chứng khoán tăng hơn gấp đôi lên 414,5 tỷ đồng; và lãi từ bán các tài sản tài chính sẵn sàng để bán (AFS) cũng gấp đôi lên 127 tỷ đồng.

Tuy nhiên, chi phí hoạt động cũng tăng mạnh, lên 632 tỷ đồng, gấp đôi cùng kỳ. Nguyên nhân chính là lỗ bán các tài sản tài chính FVTPL tăng gấp 4,3 lần lên 455 tỷ đồng, trong khi chi phí nghiệp vụ môi giới chỉ tăng 23%. Bên cạnh đó, chi phí tài chính tăng 89% lên 346 tỷ đồng, chủ yếu do chi phí lãi vay tăng.

Kết quả, Vietcap ghi nhận lợi nhuận trước thuế 404 tỷ đồng, tăng 13,5% và hoàn thành 17,5% kế hoạch năm. Lợi nhuận sau thuế đạt 341 tỷ đồng, tăng 15,9%.

Điểm đáng chú ý nhất nằm ở mảng tự doanh. Trong bối cảnh thị trường chứng khoán quý I diễn biến kém tích cực, hiệu quả đầu tư của Vietcap suy giảm rõ rệt. Lãi ròng từ việc bán các tài sản tài chính FVTPL chỉ đạt 14,77 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ năm trước là 247,4 tỷ đồng. Đây là chênh lệch rất lớn, cho thấy kết quả lợi nhuận quý này không còn dựa nhiều vào tự doanh như trước.

Ngược lại, mảng môi giới lại tạo ra “cứu cánh” rõ ràng. Lợi nhuận gộp từ môi giới chứng khoán đạt 177 tỷ đồng, gấp 10 lần con số 17,3 tỷ đồng của cùng kỳ năm trước. Trong thực tế thị trường, đây là tín hiệu đáng chú ý vì môi giới thường phản ánh trực tiếp sức khỏe giao dịch và thị phần của công ty chứng khoán.

Quý đầu năm, Vietcap cũng tăng đáng kể thị phần môi giới cổ phiếu, chứng chỉ quỹ trên HoSE lên 7,35%, tăng gần 1% phần trăm so với cuối năm trước và vươn lên vị trí thứ 4 trong top 10. Với nhà đầu tư, thị phần tăng thường là dữ liệu quan trọng vì nó cho thấy năng lực thu hút dòng tiền và duy trì tệp khách hàng đang cải thiện.

Ở góc độ tài sản và nguồn vốn, Vietcap tiếp tục duy trì quy mô lớn. Trong quý I, công ty đã chia cổ tức tiền mặt 2 đợt với tổng tỷ lệ 750 đồng/cp. Đồng thời, khoản chênh lệch đánh giá tài sản theo giá trị hợp lý giảm từ 2.694 tỷ đồng xuống 1.875,5 tỷ đồng. Hai yếu tố này khiến vốn chủ sở hữu giảm gần 700 tỷ đồng, còn 17.319 tỷ đồng, dù vẫn được bổ sung thêm lợi nhuận trong quý.

Ngược lại, công ty tăng vay ngắn hạn từ 16.064 tỷ đồng lên 18.244 tỷ đồng. Nhờ vậy, tổng tài sản của Vietcap tăng hơn 1.000 tỷ đồng, lên 37.097 tỷ đồng.

Khoản mục chiếm tỷ trọng lớn nhất tiếp tục là dư nợ cho vay với 16.613 tỷ đồng, tăng thêm 446 tỷ đồng so với đầu năm và mới tương đương 96% vốn chủ sở hữu. Con số này cho thấy dư địa mở rộng vẫn còn, đặc biệt nếu hoạt động cho vay margin tiếp tục được kiểm soát tốt về chi phí vốn.

Danh mục tài sản tài chính sẵn sàng để bán (AFS) đạt 13.089 tỷ đồng, giảm nhẹ so với đầu năm. Trong đó, danh mục chứng khoán AFS niêm yết tăng từ 9.047,5 tỷ đồng lên 9.857 tỷ đồng theo giá gốc.

Tại cuối quý I, Vietcap đang tạm lỗ 29% ở cổ phiếu FPT, lỗ 4% ở KDH và lỗ 5,6% ở MWG; ngược lại, công ty ghi nhận lãi gần 19% tại MCH và 31,6% tại TDM. Ngoài ra, khoản đầu tư lâu năm tại IDP vẫn là một điểm sáng lớn khi giá gốc 441 tỷ đồng nhưng đã ghi nhận lãi 1.897 tỷ đồng.

Về kế hoạch năm, Vietcap đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 2.300 tỷ đồng. Tại ĐHĐCĐ thường niên đầu tháng 4, bà Tôn Minh Phương, Tổng Giám đốc, cho biết động lực đến từ mảng đầu tư và môi giới. Công ty dự kiến thoái vốn một số khoản đầu tư, đồng thời thực hiện M&A trong năm nay để ghi nhận doanh thu lớn cho mảng đầu tư.

Ở mảng môi giới, ban lãnh đạo kỳ vọng vào câu chuyện nâng hạng thị trường chứng khoán và việc phát triển khách hàng tổ chức sau sự kiện này. Đây là hướng đi có tính dài hơi, tương tự như trong bất động sản, khi hạ tầng và quy hoạch thay đổi thì nhóm hưởng lợi thường là những đơn vị có nền tảng sẵn.

Riêng mảng cho vay ký quỹ, ban lãnh đạo thừa nhận môi trường lãi suất cao sẽ khiến biên lãi ròng khó duy trì như năm 2025. Dù vậy, công ty sẽ tận dụng các khoản vay hợp vốn nước ngoài để tối ưu chi phí vốn, đồng thời tiếp tục xem margin là dịch vụ hỗ trợ khách hàng hơn là động lực tăng trưởng cốt lõi.

Tóm lại, quý I của Vietcap cho thấy một bức tranh khá rõ: tự doanh giảm tốc, nhưng môi giới và cho vay vẫn giữ được vai trò dẫn dắt. Thị phần môi giới tăng lên 7,35% và đứng thứ 4 trên HoSE là điểm đáng theo dõi trong các quý tới.

Bạn đánh giá thế nào về bức tranh kinh doanh của Vietcap trong quý I? Comment bên dưới nhé!

#ChoVayKyQuy #CoPhieuFpt #MoiGioi #QuyI #Vietcap

Xem thêm
Nhịp Sống Nhà Đất

Chia sẻ bài viết