#LuatDatDai2024
Nhã Nhi @nhanhi · 21/06/2026

Đất lúa trong khu dân cư đã xây nhà có được chuyển sang đất ở?

Đất trồng lúa trong khu dân cư đã xây nhà có được chuyển sang đất ở không? Trường hợp này phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép, và nghĩa vụ tài chính khi chuyển mục đích sử dụng đất được thực hiện theo khoản 2 Điều 121 Luật Đất đai.

Trường hợp người dân ở An Giang phản ánh gì?

Theo phản ánh, khoảng năm 2000 gia đình có gần 10.000 m2 đất nông nghiệp được quy hoạch làm khu dân cư chức năng văn hóa, phần còn lại là gần 500 m2.

Sau khi thu hồi sổ đỏ để bồi thường, địa phương trả lại một sổ đỏ khác với diện tích gần 500 m2, mục đích sử dụng ghi "Lúa". Tuy nhiên, từ đó đến nay đất nằm giữa khu dân cư nên gia đình không trồng được gì. Năm 2008, gia đình cất một căn nhà trên phần đất này và nay muốn chuyển mục đích sử dụng.

Đất lúa trong khu dân cư có được chuyển sang đất ở?

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, căn cứ để giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất được quy định tại Điều 116 Luật Đất đai năm 2024 (được sửa đổi, bổ sung tại điểm a khoản 2 Điều 57 Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn 2024).

Cụ thể, với đất nông nghiệp trong khu dân cư, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở sang đất ở hoặc chuyển từ các loại đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở đối với hộ gia đình, cá nhân, căn cứ là quy hoạch sử dụng đất cấp huyện hoặc quy hoạch chung hoặc quy hoạch phân khu đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Chuyển mục đích sử dụng đất có cần xin phép không?

Có. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, việc chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp thuộc trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo điểm b khoản 1 Điều 121 Luật Đất đai.

Ai có thẩm quyền giải quyết?

Thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất được quy định tại Điều 14 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026 của Chính phủ, phân cấp thẩm quyền cho UBND cấp tỉnh thực hiện trong lĩnh vực đất đai.

Trình tự, thủ tục hành chính về đất đai được quy định tại khoản 1 Điều 15 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP, theo đó UBND cấp tỉnh quy định trình tự, thủ tục hành chính về đất đai, trong đó có thủ tục cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.

Nghĩa vụ tài chính khi chuyển đất sang đất ở

Nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất được quy định tại khoản 2 Điều 121 Luật Đất đai.

Gia đình cần làm gì tiếp theo?

Do không có hồ sơ cụ thể và trong nội dung kiến nghị có nêu hộ gia đình, cá nhân đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 500 m2, mục đích sử dụng là đất trồng lúa nhưng đã chuyển một phần diện tích sang đất ở, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị gia đình liên hệ UBND cấp xã nơi có đất để được hướng dẫn và xem xét, giải quyết theo thẩm quyền và quy định của pháp luật.

Bạn đang vướng trường hợp tương tự về đất lúa trong khu dân cư? Comment bên dưới để cùng trao đổi nhé!

#ChuyenMucDichSuDungDat #DatO #DatTrongLua #LuatDatDai2024 #UbndCapTinh

Xem thêm
An Nhiên @annhien · 10/06/2026

Chính phủ giao hạn xử lý các dự án bất động sản tồn đọng, kéo dài

Chính phủ giao hạn xử lý các dự án bất động sản tồn đọng, kéo dài, với loạt văn bản hướng dẫn phải hoàn thành trong tháng 7 và tháng 8/2026 để triển khai cơ chế đặc thù xử lý vi phạm đất đai.

Điểm chính của kế hoạch là gì?

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng vừa ký Quyết định số 1020/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Nghị quyết số 29/2026/QH16 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.

Nghị quyết này áp dụng đối với các vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực, đồng thời nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài trên phạm vi cả nước.

Vì sao nội dung này được chú ý?

Động thái này diễn ra trong bối cảnh nhiều dự án bất động sản, dự án sử dụng đất còn gặp vướng mắc kéo dài. Ước tính, cả nước hiện có khoảng 4.500 dự án bất động sản gặp vướng mắc, với tổng vốn tồn đọng khoảng 3,3 triệu tỷ đồng.

Các mốc thời gian cần lưu ý

Theo kế hoạch, việc triển khai Nghị quyết được thực hiện theo nguyên tắc “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ thời gian và rõ kết quả.

Trong tháng 7/2026, Bộ Nội vụ được giao chủ trì xây dựng Nghị định của Chính phủ sửa đổi, bổ sung quy định về xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức vi phạm pháp luật về đất đai nhưng không tham nhũng, xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực.

Cũng trong tháng 7/2026, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng được giao xây dựng, ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý kỷ luật đối với các cá nhân là cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang có vi phạm pháp luật về đất đai nhưng không tham nhũng.

Trong tháng 8/2026, Bộ Công an được giao chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên ngành tư pháp Trung ương, Bộ Tư pháp và các cơ quan liên quan xây dựng, ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù về hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án đối với các vi phạm xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực.

Rà soát văn bản pháp luật được làm đến khi nào?

Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng được giao chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các cơ quan liên quan rà soát, xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới các văn bản cần thiết để phù hợp với Nghị quyết.

Việc rà soát các văn bản phải hoàn thành chậm nhất ngày 30/8/2026. Các bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp gửi danh mục văn bản cần sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới về cơ quan có thẩm quyền trong tháng 6/2026.

Ai sẽ phối hợp giám sát triển khai?

Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng và Thanh tra Chính phủ được giao phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xây dựng văn bản hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ; tiếp nhận và xử lý phản ánh, kiến nghị; đồng thời kiểm tra, đôn đốc, theo dõi tình hình tổ chức thực hiện Nghị quyết và các văn bản hướng dẫn.

Theo kế hoạch, trong năm 2026, các bộ, ngành và địa phương cũng sẽ tổ chức hội nghị, tọa đàm, biên soạn tài liệu phổ biến, truyền thông về Nghị quyết và các văn bản hướng dẫn thi hành, nhằm tạo sự thống nhất trong quá trình triển khai.

Bạn nghĩ việc gỡ vướng theo mốc thời gian này sẽ tác động thế nào đến các dự án đang tồn đọng? Comment bên dưới nhé!

#BoNongNghiepVaMoiTruong #LuatDatDai2024 #NghiQuyet292026qh16 #NoDongDuAnBatDongSan #QuyetDinh1020qdttg

Xem thêm
Minh Tú BĐS @minhtubds · 07/06/2026

Sổ đỏ chỉ đứng tên 1 người không đồng nghĩa là tài sản riêng

Sổ đỏ chỉ đứng tên vợ hoặc chồng không đương nhiên là tài sản riêng. Cục Pháp luật dân sự - kinh tế (Bộ Tư pháp) khẳng định, nếu muốn xác định là tài sản riêng thì người đứng tên phải có căn cứ và tài liệu chứng minh theo quy định.

Vì sao sổ đỏ chỉ ghi 1 tên chưa đủ để kết luận?

Theo Cục Pháp luật dân sự - kinh tế, tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân, trong đó có quyền sử dụng đất, về nguyên tắc được xác định là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc hình thành từ tài sản riêng.

Vì vậy, việc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ ghi tên vợ hoặc chồng không đồng nghĩa đó là tài sản riêng của người đứng tên.

Khi nào được coi là tài sản riêng?

Nếu một bên cho rằng quyền sử dụng đất là tài sản riêng, cần có hồ sơ, giấy tờ chứng minh rõ nguồn gốc tài sản, chẳng hạn như giấy tờ thể hiện việc được tặng cho riêng, thừa kế riêng hoặc hình thành từ tài sản riêng.

Cục cũng dẫn quy định của Luật Đất đai năm 2024 cho biết: nếu giấy chứng nhận trước đây chỉ ghi tên vợ hoặc chồng thì người dân có quyền yêu cầu cấp đổi để ghi đầy đủ tên của cả hai vợ chồng trên giấy chứng nhận.

Có bắt buộc công chứng văn bản xác định thành viên hộ gia đình sử dụng đất không?

Bộ Tư pháp cho biết Luật Đất đai năm 2024 giao cho các thành viên trong hộ gia đình tự thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc xác định những người có chung quyền sử dụng đất để ghi trên giấy chứng nhận.

Pháp luật hiện hành không quy định bắt buộc văn bản thỏa thuận này phải được công chứng hoặc chứng thực. Tuy nhiên, nếu người dân có nhu cầu, tổ chức hành nghề công chứng hoặc cơ quan có thẩm quyền có thể thực hiện chứng thực chữ ký trên văn bản.

Cục lưu ý, việc chứng thực chữ ký chỉ xác nhận chữ ký là của người yêu cầu chứng thực; cơ quan chứng thực không chịu trách nhiệm về nội dung văn bản. Người ký phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về các thông tin, cam kết đã ghi.

Đất của hộ gia đình, khi nào vợ/chồng có quyền liên quan?

Bộ Tư pháp cho biết cần phân biệt giữa quyền sử dụng đất của hộ gia đình và chế độ tài sản chung của vợ chồng.

Luật Đất đai năm 2024 quy định hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng, cùng sinh sống và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận hoặc nhận chuyển quyền sử dụng đất.

Như vậy, quyền sử dụng đất của hộ gia đình được xác lập theo điều kiện và thời điểm cụ thể của pháp luật đất đai. Việc một thành viên sau đó kết hôn không làm phát sinh đương nhiên quyền sử dụng đất của người vợ hoặc người chồng đối với phần quyền sử dụng đất đã được xác lập trước đó.

Tuy nhiên, dưới góc độ pháp luật hôn nhân và gia đình, phần quyền sử dụng đất mà thành viên hộ gia đình được hưởng có thể trở thành tài sản chung của vợ chồng nếu thuộc trường hợp pháp luật quy định là tài sản chung.

Điều người dân cần lưu ý

Khi thực hiện các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cần xem xét đồng thời quy định của Luật Đất đai và Luật Hôn nhân và gia đình để xác định đúng chủ thể có quyền và nghĩa vụ liên quan.

Theo Cục Pháp luật dân sự - kinh tế, các hướng dẫn này nhằm tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn công chứng và đăng ký đất đai kể từ khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực.

Bộ Tư pháp cũng nhấn mạnh việc xác định chủ thể có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cần được thực hiện thận trọng, để hạn chế tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch bất động sản.

Bạn nghĩ sao về quy định này? Comment bên dưới nhé!

#BoTuPhap #LuatDatDai2024 #QuyenSuDungDat #SoDoDungTenMotNguoi #TaiSanChungVoChong

Xem thêm
Minh Tú BĐS @minhtubds · 07/06/2026

Diện tích đất tăng sau đo đạc, có được cấp sổ đỏ phần chênh lệch?

Diện tích đất thực tế tăng sau đo đạc có được cấp sổ đỏ cho phần chênh lệch hay không là câu hỏi nhiều người đang quan tâm. Câu trả lời phụ thuộc vào việc ranh giới thửa đất có thay đổi hay không, có tranh chấp hay không và nguồn gốc phần diện tích tăng thêm.

Diện tích đo thực tế lớn hơn sổ đỏ: khi nào được tính theo số đo mới?

Theo khoản 6 Điều 135 Luật Đất đai 2024, nếu số liệu đo đạc thực tế và diện tích ghi trên giấy chứng nhận có chênh lệch nhưng ranh giới thửa đất không thay đổi so với thời điểm cấp sổ đỏ, đồng thời không phát sinh tranh chấp với hộ liền kề, thì diện tích đất được xác định theo số liệu đo đạc thực tế.

Trường hợp nào phần diện tích tăng thêm được xem xét cấp sổ đỏ?

Nếu khi đo đạc lại phát sinh thay đổi ranh giới thửa đất so với thời điểm cấp sổ đỏ và diện tích thực tế tăng lên, phần chênh lệch sẽ được xem xét cấp giấy chứng nhận theo khoản 2 Điều 24 Nghị định 101/2024.

Cụ thể:

- Nếu phần diện tích tăng thêm phát sinh do nhận chuyển nhượng một phần thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận nhưng trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành (1/8/2024) chưa làm thủ tục sang tên theo quy định, người sử dụng đất được thực hiện thủ tục cấp sổ đỏ cho toàn bộ diện tích đang sử dụng.

- Khi đó, Văn phòng đăng ký đất đai sẽ thực hiện chỉnh lý giấy chứng nhận của bên chuyển quyền sử dụng đất.

- Trường hợp phần diện tích tăng thêm có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 137 của Luật Đất đai thì loại đất, diện tích để cấp sổ đỏ là toàn bộ thửa đất gốc và phần diện tích tăng thêm được xác định theo quy định tại Điều 141 của luật.

- Với phần diện tích tăng thêm không thuộc các trường hợp trên nhưng đáp ứng đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận theo các điều 138, 139 và 140 của Luật Đất đai, cơ quan chức năng vẫn xem xét cấp sổ đỏ cho toàn bộ diện tích đang sử dụng.

Trình tự, thủ tục đăng ký, cấp sổ đỏ đối với toàn bộ diện tích đất đang sử dụng được thực hiện theo Điều 37 của Nghị định 101/2024.

Đất giảm diện tích so với sổ đỏ thì xử lý thế nào?

Trao đổi với báo Lao Động, luật sư Nguyễn Trọng Hoàng - Công ty Luật TNHH LawKey - cho biết, khi diện tích đất thực tế nhỏ hơn diện tích ghi trên giấy chứng nhận đã cấp, cách xử lý sẽ phụ thuộc vào nguyên nhân làm giảm diện tích đất.

Thông thường có các trường hợp sau:

- Nếu diện tích giảm do sai số đo đạc trước đây, khi đo đạc lại chính xác hơn và ranh giới thực tế không thay đổi, người dân cần thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai. Sau đó cơ quan đăng ký đất đai sẽ cập nhật lại diện tích thực tế và có thể cấp, đổi giấy chứng nhận mới theo khoản 6 Điều 135 Luật Đất đai 2024.

- Nếu diện tích giảm do bị thu hồi một phần đất, sạt lở tự nhiên, mở đường hoặc thay đổi ranh giới sử dụng đất thì cơ quan nhà nước sẽ căn cứ hiện trạng và hồ sơ quản lý đất đai để chỉnh lý hoặc cấp đổi Giấy chứng nhận phù hợp với diện tích còn lại.

- Nếu diện tích giảm do có tranh chấp với hộ liền kề thì trước tiên phải giải quyết tranh chấp. Sau khi có quyết định hoặc bản án có hiệu lực pháp luật mới thực hiện việc điều chỉnh lại diện tích trên sổ đỏ.

Cần lưu ý gì về nghĩa vụ tài chính?

Về nghĩa vụ tài chính khi cấp đổi giấy chứng nhận do tăng diện tích, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị người dân liên hệ cơ quan tài chính hoặc cơ quan có thẩm quyền tại địa phương để được hướng dẫn cụ thể.

Nói ngắn gọn, người dân hoàn toàn có thể xin cấp lại hoặc cấp đổi sổ tùy từng trường hợp cụ thể theo quy định. Bạn đang gặp tình huống nào: đất tăng diện tích hay giảm diện tích? Comment bên dưới nhé!

Minh Hoa (t/h theo Vietnamnet, Lao Động)

#CapGiayChungNhan #DoDacDatDai #LuatDatDai2024 #NghiDinh1012024 #SoDo

Xem thêm
Nhịp Sống Nhà Đất

Chia sẻ bài viết