#TinDung
An Nhiên @annhien · 24/06/2026

NHNN nới trần vốn ngắn hạn cho vay dài hạn: Đại gia BĐS nào hưởng lợi?

NHNN nâng trần tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% theo Thông tư 25/2026/TT-NHNN, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Động thái này được Mirae Asset đánh giá sẽ tạo dư địa tín dụng mới cho ngân hàng, đồng thời lan tỏa lợi ích sang bất động sản, thép và hạ tầng.

Thông tư 25 thay đổi gì?

Theo báo cáo của Mirae Asset, Thông tư 25/2026/TT-NHNN ban hành ngày 22/6/2026 có 2 điểm đáng chú ý.

1. Trần SFL tăng từ 30% lên 40%

NHNN nâng trần tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn (SFL) từ 30% lên 40%. Đây là bước đảo chiều so với lộ trình siết dần từ năm 2019, khi tỷ lệ này từng giảm từ 40% xuống 37%, rồi 34% và về 30% từ tháng 10/2023.

Mirae Asset cho rằng việc nới trở lại mức 40% cho thấy chính sách đang nghiêng về hỗ trợ tăng trưởng tín dụng trung và dài hạn, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế cần nguồn vốn lớn cho các dự án có chu kỳ dài.

2. Điều chỉnh cách tính LDR

Với tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR), NHNN tiếp tục loại trừ tiền gửi không kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước (KBNN) khỏi mẫu số. Đồng thời, các ngân hàng được phép loại trừ thêm 80% số dư tiền gửi có kỳ hạn của KBNN.

Thay đổi này đặc biệt có ý nghĩa với các ngân hàng nắm nhiều tiền gửi KBNN, chủ yếu là nhóm quốc doanh, vì có thể cải thiện chỉ số LDR trên sổ sách mà không cần thay đổi lớn cơ cấu huy động vốn.

Ngân hàng nào hưởng lợi nhiều nhất?

Vietcombank, BIDV và VietinBank được Mirae Asset đánh giá hưởng lợi lớn nhất vì đồng thời được nới dư địa từ cả hai chỉ tiêu LDRSFL. Điều này giúp các ngân hàng quốc doanh có thêm nền tảng để đẩy mạnh cho vay trung và dài hạn trong thời gian tới.

Ở nhóm ngân hàng tư nhân, các nhà băng có tỷ lệ CASA cao như TechcombankMB cũng được kỳ vọng hưởng lợi từ việc nới trần SFL, nhờ nguồn vốn ngắn hạn giá rẻ dồi dào có thể chuyển hóa thành cho vay trung và dài hạn với lợi suất cao hơn, qua đó cải thiện biên lãi ròng (NIM).

Nhóm ngân hàng bán lẻ thâm dụng vốn như VPBank, HDBank và TPBank cũng được hưởng lợi khi áp lực thanh khoản giảm bớt.

Với các ngân hàng như ACB, Sacombank, LPBank, SHB, tác động trực tiếp có thể không quá lớn do mức độ phụ thuộc vào hạn mức SFL thấp hơn. Tuy vậy, họ vẫn hưởng lợi gián tiếp từ môi trường lãi suất thuận lợi hơn, giúp giảm áp lực chi phí vốn (COF) trên toàn hệ thống.

Bất động sản nào được hưởng lợi?

Không chỉ ngân hàng, Mirae Asset cho rằng nhiều doanh nghiệp bất động sản cũng sẽ được hưởng lợi từ chính sách mới.

Bất động sản nhà ở và thương mại

Các doanh nghiệp như Vinhomes, Khang Điền, Nam Long, Novaland và Phát Đạt được đánh giá hưởng lợi đáng kể nhờ cơ chế kép:

- Chủ đầu tư có thêm cơ hội tiếp cận nguồn vốn trung và dài hạn với chi phí thấp hơn.
- Lãi suất cho vay mua nhà giảm có thể kích thích nhu cầu của người mua.

Bất động sản khu công nghiệp

Nhóm Kinh Bắc, Idico, Becamex, Sonadezi Châu Đức được kỳ vọng hưởng lợi từ nguồn vốn trung và dài hạn dồi dào hơn, hỗ trợ mở rộng quỹ đất và phát triển hạ tầng khu công nghiệp. Đồng thời, doanh nghiệp FDI cũng có điều kiện thuận lợi hơn để tiếp cận tín dụng xây nhà máy.

Nhóm thép và hạ tầng cũng có phần

Mirae Asset đánh giá tích cực với nhóm thép và hạ tầng xây dựng, trong đó có Hòa Phát, Đèo Cả, Vinaconex, Hoa Sen và Nam Kim. Lý do là xu hướng gia tăng đầu tư và tín dụng trung, dài hạn có thể tạo thêm động lực cho các ngành liên quan.

Bạn nghĩ sao về tác động của Thông tư 25 đến nhóm bất động sản và ngân hàng? Comment bên dưới nhé!

#BatDongSan #KhangDien #NamLong #NganHangNhaNuoc #Novaland #ThongTu25 #TinDung #Vinhomes

Xem thêm
Lan Trinh @lantrinh · 20/05/2026

HoREA: Hơn 2 triệu tỷ đồng đang mắc kẹt ở dự án vướng pháp lý

Thị trường bất động sản đang đối mặt với sự đứt gãy niềm tin nghiêm trọng, khi hơn 2,5 triệu tỷ đồng nằm trong 4.500 dự án vướng pháp lý trên cả nước.

Niềm tin thị trường đang bị bào mòn

Chiều 20/5 tại TP. HCM, tại Diễn đàn tài chính 2026: “Khơi thông dòng vốn, kết nối đa kênh”, ông Lê Hoàng Châu - Chủ tịch HoREA - cho biết các rào cản thể chế pháp luật kéo dài đang khiến thị trường rơi vào tình trạng khó khăn.

Theo ông Châu, ở TP. HCM, việc tháo gỡ đang được triển khai qua Tổ công tác đặc biệt do Chủ tịch UBND TP. HCM làm Tổ trưởng. Sở Tài chính đã tổng hợp danh sách 838 dự án và cơ sở nhà đất cần xử lý.

HoREA bổ sung thêm 112 trường hợp

HoREA cũng đã khảo sát và báo cáo bổ sung 112 dự án qua 5 đợt báo cáo khẩn cấp, nâng tổng số dự án và khu đất cần tháo gỡ trên địa bàn lên 950 trường hợp.

Trong danh sách 838 dự án do Sở Tài chính thống kê, có 265 dự án thuộc doanh nghiệp tư nhân, 13 dự án đầu tư theo hình thức PPP và 28 dự án của doanh nghiệp Nhà nước.

Con số trên cả nước là bao nhiêu?

Trên phạm vi cả nước, ông Châu cho biết có 4.500 dự án đang vướng mắc pháp lý. Tổng mức đầu tư của khối dự án này lên tới hơn 2,5 triệu tỷ đồng, chiếm diện tích hơn 2 triệu ha đất.

Doanh nghiệp vẫn khó tiếp cận vốn tín dụng

Về nguồn vốn, ông Lê Hoàng Châu bày tỏ lo ngại với kế hoạch tăng trưởng tín dụng năm 2026. Theo dự kiến của Ngân hàng Nhà nước, hạn mức tăng trưởng tín dụng khoảng 15%, tương đương bổ sung thêm khoảng 2 triệu tỷ đồng vào nền kinh tế.

Ông Châu cho rằng con số này thấp hơn khoảng 200.000 tỷ đồng so với lượng vốn được đưa ra thị trường trong năm 2025, khi tăng trưởng tín dụng đạt 19,1%.

Dù Ngân hàng Nhà nước cho biết lãi suất cho vay đã giảm khoảng 0,5%, ông Châu nói thực tế doanh nghiệp vẫn phải tiếp cận vốn với mức lãi suất cao hơn nhiều.

Cần điều chỉnh trần tín dụng linh hoạt hơn?

Từ thực tế đó, ông đề nghị Nhà nước cân nhắc điều chỉnh trần tín dụng theo hướng linh hoạt hơn để hỗ trợ thị trường phục hồi.

Bạn nghĩ sao về bài toán pháp lý và dòng vốn của thị trường BĐS hiện nay? Comment bên dưới nhé!

#BatDongSan #HiepHoiBatDongSanTpHcm #Horea #LeHoangChau #NiemTin #TinDung #VuongMacPhapLy

Xem thêm
Minh Tú BĐS @minhtubds · 20/05/2026

Nới cách tính LDR, lãi suất huy động có hạ nhiệt?

Thông tư 08/2026/TT-NHNN có thể tạo thêm dư địa tín dụng cho nhiều ngân hàng, đặc biệt là nhóm quốc doanh, và qua đó làm dịu áp lực lãi suất huy động.

Tín dụng tăng nhanh, huy động vốn chậm lại

Từ quý IV/2025, áp lực thanh khoản trong hệ thống ngân hàng nóng dần khi tốc độ tăng trưởng huy động vốn không theo kịp tín dụng. Để hút tiền gửi, nhiều ngân hàng đã bước vào cuộc đua lãi suất, có lúc xuất hiện mức hơn 9%/năm trước khi điều chỉnh giảm nhẹ sau yêu cầu của NHNN đầu tháng 4.

Tính đến hết ngày 31/3, tổng dư nợ cho vay khách hàng của 27 ngân hàng niêm yết đạt hơn 14,44 triệu tỷ đồng, trong khi tiền gửi khách hàng chỉ đạt 12,85 triệu tỷ đồng. Nghĩa là các ngân hàng đang cho vay vượt huy động khoảng 2 triệu tỷ đồng.

Đáng chú ý, có tới 13 ngân hàng ghi nhận số dư tiền gửi khách hàng sụt giảm trong quý I/2026 - mức phân hóa cao nhất trong nhiều năm trở lại đây.

Bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế - NHNN, cho biết đến ngày 28/4, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 19,4 triệu tỷ đồng, tăng 4,42% so với cuối năm 2025 và tăng 18,26% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, huy động vốn tăng rất chậm, khiến quy mô huy động vốn đang “chênh” khoảng 2 triệu tỷ đồng so với tín dụng.

Vì sao LDR tăng và lãi suất bị đẩy lên?

Khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động, các ngân hàng buộc phải cạnh tranh mạnh hơn để hút tiền gửi. Đây là nguyên nhân khiến mặt bằng lãi suất huy động trong 3 tháng đầu năm nay ghi nhận mức tăng mạnh nhất trong khoảng 3 năm gần đây.

Đến cuối quý I/2026, tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) của hệ thống đã vượt 112%. Theo SSI Research, điều này phản ánh việc các ngân hàng đang sử dụng gần như toàn bộ nguồn vốn huy động để phục vụ tăng trưởng tín dụng.

MBS cho rằng mặt bằng LDR hiện cao hơn đáng kể so với giai đoạn trước, còn VCBS nhận định lãi suất liên ngân hàng duy trì ở mức cao và biến động mạnh cho thấy thanh khoản hệ thống không còn dư thừa như trước.

Nới cách tính LDR, ngân hàng có thêm “bộ đệm” thanh khoản

Trước áp lực thanh khoản gia tăng, ngày 15/5, NHNN ban hành Thông tư 08/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN. Điểm đáng chú ý là thay đổi cách tính tỷ lệ LDR, qua đó tạo thêm dư địa tín dụng cho nhiều ngân hàng, đặc biệt là nhóm quốc doanh.

Theo đó, từ 15/5, các ngân hàng được phép đưa 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước (KBNN) vào mẫu số để tính tỷ lệ LDR.

Theo giới phân tích, quy định mới này sẽ là một “bộ đệm” thanh khoản quan trọng, giúp ngân hàng cải thiện tỷ lệ an toàn, giảm áp lực huy động vốn từ dân cư và mở thêm dư địa cho vay.

Nhóm ngân hàng nào hưởng lợi nhiều nhất?

Với việc nới cách tính LDR, nhóm ngân hàng vốn Nhà nước được dự báo hưởng lợi đáng kể vì đang nắm giữ phần lớn nguồn tiền gửi KBNN trong hệ thống.

Tính đến tháng 3, số dư tiền gửi của KBNN tại toàn hệ thống ngân hàng là 626.716 tỷ đồng, trong đó riêng khối ngân hàng thương mại nhà nước là 624.167 tỷ đồng, chiếm tới 99,59%.

Theo báo cáo tài chính quý I, Vietcombank, BIDV và VietinBank đang nắm tổng cộng hơn 563.000 tỷ đồng tiền gửi KBNN, tăng gần 39% so với cuối năm ngoái. Như vậy, việc kéo dài thời gian được tính 20% tiền gửi KBNN khi tính LDR có thể giúp mỗi ngân hàng trên có thêm khoảng 37.000 tỷ đồng bổ sung vào nguồn vốn để mở rộng hoạt động cho vay.

ACBS đánh giá việc đưa 20% tiền gửi KBNN vào công thức tính LDR giúp hệ thống ngân hàng giảm áp lực duy trì các quy định mang tính “cơ học” trước đây, đặc biệt là tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn.

VPBankS cho rằng quy định mới có tác động tích cực đối với nhóm ngân hàng quốc doanh trong bối cảnh tăng trưởng huy động vốn toàn hệ thống còn chậm hơn tín dụng.

FPTS ước tính quy định mới có thể giúp tăng thêm từ 106.000-707.000 tỷ đồng tín dụng, đóng góp khoảng 0,5-3,8 điểm % cho tăng trưởng tín dụng cả năm.

Lãi suất có hạ nhiệt ngay không?

Theo các chuyên gia, một hệ quả tích cực khác của việc nới LDR là góp phần ổn định mặt bằng lãi suất. Khi thanh khoản được cải thiện, áp lực huy động vốn sẽ giảm, từ đó kéo theo xu hướng hạ nhiệt lãi suất.

KBSV nhận định khi các ngân hàng không còn chịu áp lực lớn về trần LDR, nhu cầu đẩy mạnh huy động vốn thông qua tăng lãi suất có thể giảm bớt.

Tuy vậy, áp lực lãi suất chưa thể biến mất ngay. VPBankS cho rằng chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn vẫn là vấn đề cốt lõi; nếu tín dụng tiếp tục tăng nhanh hơn huy động, áp lực lãi suất vẫn hiện hữu.

Trong bối cảnh nhiều ngân hàng thiếu vốn, tăng lãi suất huy động vẫn là công cụ cạnh tranh phổ biến. Vì vậy, mặt bằng lãi suất được dự báo có thể chưa giảm ngay lập tức mà còn phụ thuộc vào tốc độ giải ngân vốn, đặc biệt là vốn đầu tư công, và khả năng cải thiện huy động vốn từ dân cư.

Bạn nghĩ Thông tư 08 sẽ giúp lãi suất sớm hạ nhiệt không? Comment bên dưới nhé!

#LaiSuat #LaiSuatChoVay #LaiSuatHuyDong #ThanhKhoanNganHang #ThongTu08 #TinDung

Xem thêm
Kiều Kiều @kieukieu · 10/05/2026

Top 10 ngân hàng có dư nợ cho vay lớn nhất quý I/2026

BIDV dẫn đầu hệ thống với dư nợ cho vay 2,39 triệu tỷ đồng quý I/2026, trong khi VPBank tăng nhanh nhất trong Top 10 với mức tăng 10,23% chỉ sau một quý.

Top ngân hàng có dư nợ cho vay lớn nhất quý I/2026

Theo số liệu tổng hợp từ 27 ngân hàng niêm yết, tổng dư nợ cho vay khách hàng tính đến ngày 31/3/2026 đạt hơn 14,4 triệu tỷ đồng, tăng 498.511 tỷ đồng so với cuối năm 2025, tương ứng tăng 3,58%.

Nhóm ngân hàng quốc doanh tiếp tục áp đảo khi cả 3 vị trí dẫn đầu đều thuộc về BIDV, VietinBankVietcombank. Chỉ riêng 3 ngân hàng này đã nắm tổng dư nợ hơn 6 triệu tỷ đồng.

Top 10 ngân hàng có dư nợ cho vay lớn nhất

- BIDV: 2,39 triệu tỷ đồng, tăng thêm 54.540 tỷ đồng
- VietinBank: gần 2 triệu tỷ đồng, tăng 36.596 tỷ đồng
- Vietcombank: 1,72 triệu tỷ đồng, tăng thêm 78.841 tỷ đồng, tương ứng tăng 4,78%
- MB: vượt 1,1 triệu tỷ đồng, tăng 3,27% so với đầu năm
- VPBank: vượt 1 triệu tỷ đồng, tăng thêm 94.759 tỷ đồng, tương ứng tăng 10,23%
- Techcombank: 785.613 tỷ đồng
- ACB: 701.212 tỷ đồng
- HDBank: 593.323 tỷ đồng, tăng 10,06%
- Sacombank: 604.878 tỷ đồng, giảm 1.459 tỷ đồng so với đầu năm
- ...

Trong đó, VPBank là cái tên đáng chú ý nhất khi chỉ sau một quý đã tăng thêm 94.759 tỷ đồng dư nợ, mức tăng cao nhất trong nhóm 10 ngân hàng có dư nợ lớn nhất hệ thống. HDBank cũng ghi nhận tăng trưởng tín dụng cao với mức tăng 10,06%.

Ngân hàng nào tăng mạnh nhất toàn hệ thống?

Không chỉ nhóm ngân hàng lớn, nhiều nhà băng quy mô trung bình cũng ghi nhận tín dụng tăng mạnh ngay từ đầu năm.

NCB là ngân hàng có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao nhất toàn hệ thống khi dư nợ tăng 19,77%, từ 96.303 tỷ đồng lên 115.346 tỷ đồng chỉ sau một quý.

Một số ngân hàng khác cũng tăng khá tốt như MSB tăng 4,64%, VietBank tăng 4,11% hay Vietcombank tăng 4,78%.

Ở chiều ngược lại, PGBank là ngân hàng giảm mạnh nhất hệ thống khi dư nợ cho vay giảm 4,27%, tương ứng giảm 1.956 tỷ đồng so với cuối năm 2025.

NHNN đặt mục tiêu tín dụng khoảng 15%

Đà tăng tín dụng diễn ra trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước đang đẩy mạnh các giải pháp hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà cho biết tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm 2026 dự kiến khoảng 15%.

Dòng vốn sẽ tiếp tục ưu tiên cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng của nền kinh tế. Tuy nhiên, việc mở rộng tín dụng vẫn phải đi kèm kiểm soát rủi ro và xử lý nợ xấu.

Lãi suất và các gói tín dụng đang diễn biến ra sao?

Theo ông Phạm Chí Quang, nhiều ngân hàng đã giảm lãi suất huy động kỳ hạn 6-12 tháng từ 0,5-1%/năm sau chỉ đạo của NHNN. Lãi suất huy động bình quân hiện ở mức khoảng 5,7%, giảm khoảng 0,26% so với cuối tháng 3/2026.

Song song đó, ngành ngân hàng đang đẩy mạnh nhiều gói tín dụng quy mô lớn để đưa vốn ra nền kinh tế:

- Chương trình tín dụng cho lĩnh vực nông, lâm, thủy sản đã giải ngân khoảng 185.500 tỷ đồng cho hơn 63.000 lượt khách hàng
- Chương trình cho vay nhà ở xã hội đã cam kết cho vay gần 20.500 tỷ đồng
- Các ngân hàng đã ký hợp đồng tín dụng cho 8 dự án hạ tầng điện, giao thông và công nghệ chiến lược với tổng cam kết cho vay khoảng 70.932 tỷ đồng

Tính đến ngày 28/4/2026, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt trên 19,4 triệu tỷ đồng, tăng 4,42% so với cuối năm 2025 và tăng 18,26% so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó, tín dụng nông nghiệp chiếm khoảng 22,2% tổng dư nợ, còn tín dụng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 20%.

Đại diện Agribank cho biết dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn của ngân hàng này hiện đạt khoảng 1,3 triệu tỷ đồng, chiếm khoảng 64% tổng dư nợ của Agribank và hơn 30% dư nợ cho vay nông nghiệp toàn ngành ngân hàng.

Bạn nghĩ sao về đà tăng tín dụng đầu năm 2026 này? Comment bên dưới nhé!

#Bidv #DuNoChoVay #NganHang #TangTruongTinDung #TinDung #Vietcombank #Vpbank

Xem thêm
Lan Trinh @lantrinh · 04/05/2026

Cởi trói tín dụng bất động sản: Vì sao không nhìn theo biến động giá?

Không nên áp dụng room tín dụng bất động sản một cách cứng nhắc - đó là quan điểm được TS. Lê Xuân Nghĩa và nhiều chuyên gia nêu ra khi bàn về vai trò của dòng vốn với thị trường.


Vì sao bất động sản được ví như “đầu kéo”?

TS. Lê Xuân Nghĩa - nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia - cho rằng bất động sản giống như đầu kéo của một đoàn tàu. Khi đầu kéo khựng lại, toàn bộ phía sau sẽ bị dồn toa.

Theo ông, nếu bất động sản đình trệ thì hàng triệu người có thể mất việc, hàng loạt máy móc sẽ nằm không, và hàng trăm nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng sẽ rơi vào tồn kho, ứ đọng.


Số thu từ nhà, đất đang tăng mạnh

Theo số liệu của Cục Thống kê - Bộ Tài chính, thu ngân sách Nhà nước năm 2025 tăng gần 30% so với năm trước. Đáng chú ý, các khoản thu từ nhà, đất đạt 575.500 tỷ đồng, bằng hơn 196% dự toán năm nhờ các địa phương đẩy mạnh đấu giá đất, cho thuê đất.

Tại TPHCM, tổng thu ngân sách từ đất trên địa bàn đạt hơn 78.000 tỷ đồng, vượt kế hoạch hơn 173%. Hà Nội có khoản thu từ đất hơn 125.000 tỷ đồng, bằng 250% so dự toán. Quảng Ninh ghi nhận khoản thu tiền sử dụng đất hơn 26.000 tỷ đồng, bằng 481% dự toán, đồng thời tăng 1.227% so với cùng kỳ năm 2024.

Điều này cho thấy khi thị trường trầm lắng, ngân sách sụt giảm sẽ tác động trực tiếp đến đầu tư công. Bất động sản “lạnh” cũng đồng nghĩa với giảm nguồn lực phát triển quốc gia.


Room tín dụng nên linh hoạt hơn?

TS. Lê Xuân Nghĩa cho rằng không nên áp dụng cơ chế room tín dụng một cách cứng nhắc, mà cần trao quyền chủ động hơn cho các ngân hàng thương mại trong phân bổ hạn mức. Theo ông, nên điều tiết thị trường bất động sản theo biến động giá thay vì siết dư nợ tín dụng.

TS. Vũ Đình Ánh - nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu thị trường giá cả, Bộ Tài chính - cũng nhận định bất động sản luôn vận động song hành với tăng trưởng của nền kinh tế.

Ông cho rằng khi Việt Nam đặt mục tiêu GDP tăng trưởng từ 10%/năm trở lên trong 20 năm tới, bất động sản sẽ bước vào giai đoạn thăng hoa. Động lực quan trọng của chu kỳ này đến từ làn sóng đầu tư hạ tầng quy mô lớn như giao thông trục quốc gia, đường sắt tốc độ cao, sân bay quốc tế, cảng biển, hạ tầng năng lượng và các siêu đô thị từ Bắc vào Nam.

Riêng năm nay, kế hoạch đầu tư công được giao với tổng vốn hơn 1 triệu tỷ đồng, trong khi nhu cầu đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 của toàn ngành xây dựng ước tính trên 2,8 triệu tỷ đồng.


Dòng vốn đang vướng ở đâu?

TS. Vũ Đình Ánh nói rằng với sức lan tỏa tới hơn 40 ngành nghề liên quan, bất động sản là một trong những động lực quan trọng cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Vì vậy, việc phân bổ nguồn vốn tín dụng tương xứng là hợp lý, thay vì bị siết chặt như hiện tại.

Ông cũng nhấn mạnh trong ngắn hạn cần điều tiết tín dụng hợp lý hơn, không nên áp dụng chính sách mang tính phân biệt đối xử với tín dụng bất động sản. Về dài hạn, cần thúc đẩy mạnh mẽ thị trường trái phiếu để tạo thêm kênh dẫn vốn bền vững.


Doanh nghiệp nói gì?

Ông Trần Việt Anh - Tổng Giám đốc Công ty CP Đầu Tư SCC - cho rằng tín dụng cho bất động sản nếu kiểm soát quá sẽ thành điểm nghẽn. Theo ông, cần thống nhất quan điểm coi bất động sản là động lực tăng trưởng, từ đó định hướng dòng vốn thay vì chỉ đặt câu hỏi siết hay nới.

Ông nhấn mạnh việc kiểm soát tín dụng nên dựa trên chất lượng dự án và năng lực doanh nghiệp, không cào bằng. Đồng thời, cần nhìn nhận bất động sản như hạ tầng kinh tế, tương tự giao thông hay năng lượng.

Theo ông, trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang dịch chuyển, Việt Nam đang có cơ hội rất lớn, nhưng cơ hội đó chỉ trở thành hiện thực khi dòng vốn đi đúng chỗ.


Phải nhìn thẳng vào sự thật: thị trường hiện không thiếu nhu cầu, nhưng người mua còn e ngại vì lãi suất và dòng vốn chưa thực sự thông suốt. Bạn nghĩ sao về quan điểm “cởi trói” tín dụng cho bất động sản? Comment bên dưới nhé!

#BatDongSan #TinDung

Xem thêm
Minh Tú BĐS @minhtubds · 29/04/2026

Thủ tướng nói về vàng: người dân được nắm giữ nhưng Nhà nước không khuyến khích

Vàng là tài sản người dân được quyền nắm giữ nhưng Nhà nước không khuyến khích, vì không tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế. Đây là nhấn mạnh của Thủ tướng Lê Minh Hưng tại cuộc làm việc với Ngân hàng Nhà nước sáng 29/4.

Điều hành kinh tế vĩ mô cần ổn định, dễ dự báo

Sáng 29/4, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng chủ trì cuộc làm việc với Ngân hàng Nhà nước về tình hình hoạt động ngân hàng những tháng đầu năm 2026; phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới, các đề xuất, kiến nghị.

Thủ tướng cho rằng, bối cảnh thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, tác động nhanh và trực tiếp tới điều hành kinh tế vĩ mô, trong đó có chính sách tiền tệ.

Theo đó, yêu cầu đặt ra với NHNN là rất lớn, trước hết phải thay đổi tư duy, phương pháp điều hành, chuyển từ quản lý sang kiến tạo phát triển, đề xuất và hoạch định chính sách để tạo môi trường ổn định, dự báo được.

Người dân, doanh nghiệp cần yên tâm để đưa tiền vào sản xuất, kinh doanh

Thủ tướng nhấn mạnh việc điều hành tỷ giá, lãi suất, tín dụng phải phù hợp với mục tiêu cao hơn trong bối cảnh mới; kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số trên nền tảng giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.

Ông ví von: “ổn định kinh tế vĩ mô là móng nhà, phải gia cố vững chắc trước khi xây thêm tầng, cải tạo hay xây mới”.

Đồng thời, cần đặc biệt quan tâm bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, hoạt động thanh toán, phòng ngừa rủi ro, vi phạm; tăng cường giám sát từ xa và kiểm tra, thanh tra tại chỗ, cũng như bảo đảm an ninh, an toàn mạng và hệ thống thanh toán.

Thúc đẩy thị trường vốn để giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng

Thủ tướng chỉ đạo NHNN phối hợp với Bộ Tài chính sửa đổi các quy định, triển khai biện pháp thúc đẩy phát triển thị trường vốn, Trung tâm tài chính quốc tế để giảm tải áp lực cho hệ thống ngân hàng.

Trong đó có sửa đổi Nghị định 153 về trái phiếu doanh nghiệp, quy định rõ tiêu chí, tiêu chuẩn, điều kiện minh bạch, công khai, công bằng để tất cả các tổ chức tín dụng nếu có đầy đủ năng lực, điều kiện, tiêu chuẩn thì đều được thực hiện nghiệp vụ quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ.

Đồng thời, yêu cầu kết nối thông tin dữ liệu đến các cơ quan quản lý nhà nước để kiểm soát, giám sát.

Tín dụng cần đi đúng vào sản xuất kinh doanh

Thủ tướng yêu cầu điều hành tăng trưởng tín dụng linh hoạt, phù hợp với diễn biến thực tế; gắn với đánh giá, nâng cao hiệu quả, chất lượng tín dụng, cơ cấu tín dụng hợp lý và hiệu quả, hướng dòng vốn vào sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng.

Ông cũng đề nghị khẩn trương nghiên cứu, đề xuất sửa đổi quy định pháp luật liên quan đến việc cấp tín dụng vượt giới hạn của các tổ chức tín dụng đối với các dự án chiến lược, trọng điểm quốc gia, gắn với tăng cường trách nhiệm của các tổ chức tín dụng trong kiểm soát chất lượng tín dụng và đánh giá hiệu quả dự án.

Với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, cần tính toán kỹ, kiểm soát và giám sát chặt chẽ việc cấp tín dụng; trong đó nghiên cứu phân loại các loại hình bất động sản để quy định các hạn mức tín dụng phù hợp, khuyến khích phát triển nhà ở xã hội, các khu công nghiệp…

Quản lý thị trường vàng theo lộ trình phù hợp

Thủ tướng yêu cầu thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại Thông báo số 211-TB/VPTW ngày 30/5/2025 về cơ chế, chính sách quản lý hiệu quả thị trường vàng, có lộ trình phù hợp với tình hình thực tế, yêu cầu chính sách qua các thời kỳ.

Ông nêu rõ: “Vàng là mặt hàng, tài sản người dân được quyền nắm giữ nhưng Nhà nước không khuyến khích, vì không tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế”. Vì vậy cần hạn chế tối đa tâm lý găm giữ và đầu cơ.

Theo Thủ tướng, nếu có nền tảng kinh tế vĩ mô vững chắc, hệ thống pháp lý công khai, minh bạch, dễ dự báo, người dân và doanh nghiệp yên tâm thì sẽ giảm nắm giữ các tài sản này, chuyển sang sản xuất, kinh doanh hoặc tăng tiền gửi ngân hàng, từ đó huy động được nguồn lực cho phát triển.

Bạn nghĩ sao về định hướng quản lý thị trường vàng và tín dụng này? Comment bên dưới nhé!

#NganHang #Nhnn #ThuTuongLeMinhHung #TinDung

Xem thêm
An Nhiên @annhien · 27/04/2026

Lãi suất Việt Nam gần như cao nhất ASEAN: Bất động sản bị ảnh hưởng gì?

Lãi suất Việt Nam hiện ở mức khoảng 5,5%-8,5%/năm, thậm chí có ngân hàng đã vượt trên 9%/năm, trong khi nhiều nước ASEAN thấp hơn đáng kể. Theo TS Phạm Xuân Hòe, đây là một trong những lý do khiến dòng vốn vào nền kinh tế, đặc biệt là bất động sản, vẫn chịu áp lực lớn.

Lãi suất Việt Nam đang đứng ở đâu trong ASEAN?

Trong talkshow "Nghịch lý 16 triệu tỷ đồng nhàn rỗi - Vì sao lãi suất Việt Nam cao bậc nhất ASEAN?", TS Phạm Xuân Hòe, nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng, cho biết mặt bằng lãi suất thị trường của Việt Nam gần như cao nhất khu vực.

Cụ thể: Thái Lan từ 2-3,5%/năm; Malaysia khoảng 2,5-4%/năm; Indonesia khoảng 4,5-6,5%/năm; Philippines từ 5-7%/năm; Singapore chỉ khoảng 1,4-3%/năm. Trong khi đó, Việt Nam đang ở mức khoảng 5,5-8,5%/năm.

Ông cũng lưu ý, hệ thống ngân hàng hiện ghi nhận quy mô tiền gửi khoảng 16 triệu tỷ đồng, gồm tiền gửi dân cư khoảng 7 triệu tỷ và tiền gửi của các tổ chức kinh tế khoảng 8 triệu tỷ.

Vì sao bất động sản bị nhắc đến như một “nút thắt”?

TS Phạm Xuân Hòe cho rằng muốn hiểu bản chất lãi suất cao, cần nhìn vào dư nợ bất động sản. Số liệu công bố chính thức cho thấy dư nợ lĩnh vực này chiếm khoảng 21% đến 25% tổng dư nợ tín dụng, tương đương 4,74 triệu tỷ đồng.

Tuy nhiên, theo ông, con số thực tế có thể lên tới 35% đến 40% do nhiều khoản vay mua nhà được kê khai dưới mục đích khác, hoặc khoản vay của doanh nghiệp xây dựng phục vụ dự án bất động sản nhưng lại được phân loại vào ngành xây dựng.

Khi lãi suất tăng, thị trường bất động sản dễ rơi vào trạng thái giảm thanh khoản, làm chậm vòng quay vốn và khiến doanh nghiệp khó trả nợ hơn. Từ đó hình thành một vòng xoáy: lãi suất cao → bất động sản chững lại → nợ xấu tăng → ngân hàng phải trích lập dự phòng lớn hơn → lãi suất tiếp tục neo cao.

Ông cho rằng trong công thức lãi suất luôn có phần bù rủi ro. Khi rủi ro hệ thống gia tăng vì nợ xấu tiềm ẩn, hiện ước tính khoảng 1 triệu tỷ đồng chưa được xử lý triệt để, mặt bằng lãi suất rất khó giảm sâu.

5 nguyên nhân khiến lãi suất khó hạ nhanh

TS Phạm Xuân Hòe chỉ ra 5 nhóm nguyên nhân chính đang giữ lãi suất ở mức tương đối cao tại Việt Nam:

1. Áp lực lạm phát

Kỳ vọng lạm phát vẫn quanh mức 4%-4,5%, trong đó chi phí đẩy từ giá năng lượng và logistics có tác động đáng kể.

2. Phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng

Thị trường tài chính Việt Nam vẫn dựa nhiều vào tín dụng ngân hàng, trong khi thị trường trái phiếu doanh nghiệp còn phát triển và chiếm tỷ trọng khiêm tốn.

3. Rủi ro nợ xấu

Hệ thống ngân hàng vẫn cần thêm thời gian để xử lý và kiểm soát hiệu quả nợ xấu.

4. Áp lực tỷ giá USD/VND

Nếu lãi suất đồng Việt Nam thấp hơn nhiều so với USD, việc điều hành tỷ giá sẽ gặp khó khăn.

5. Mất cân đối kỳ hạn vốn

Khoảng 80% nguồn vốn huy động là ngắn hạn dưới một năm, trong khi 47% dư nợ cho vay là trung và dài hạn. Việc dùng vốn ngắn hạn cho vay dài hạn khiến chi phí tăng, từ đó đẩy lãi suất lên cao.

Doanh nghiệp và thị trường vốn đang chịu áp lực gì?

TS Phạm Xuân Hòe dẫn số liệu của VCCI cho thấy hơn 50% doanh thu của nhiều doanh nghiệp lớn đến từ bất động sản và hoạt động tài chính, thay vì sản xuất cốt lõi.

Ông cũng cho biết hệ số đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp Việt Nam hiện ở mức 2,1 đến 2,3 lần vốn chủ sở hữu, cao hơn mức an toàn bình quân thế giới là 1,6 lần.

Trong bối cảnh chi phí vốn cao và đầu vào tăng, doanh nghiệp nội địa đối mặt với áp lực suy giảm lợi thế cạnh tranh, đặc biệt trước hàng hóa giá rẻ từ khu vực, nhất là Trung Quốc.

Giải pháp nào để hạ mặt bằng lãi suất?

TS Phạm Xuân Hòe kiến nghị Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước xây dựng đề án tái cấu trúc hệ thống ngân hàng theo hướng thực chất, giảm số lượng ngân hàng nhỏ, yếu kém, hướng tới hình thành khoảng 20-25 ngân hàng có năng lực quản trị và công nghệ tốt.

Ông cũng nhấn mạnh cần xử lý triệt để sở hữu chéo và tình trạng ngân hàng phục vụ lợi ích nhóm, đầu cơ đất đai, như bài học từ vụ án Vạn Thịnh Phát và SCB. Việc minh bạch hóa thu nhập cá nhân và nguồn gốc dòng tiền được xem là điều kiện quan trọng để hạn chế dòng vốn chảy vào kênh đầu cơ.

Một giải pháp khác là cải tiến quy trình giải ngân vốn đầu tư công tại Kho bạc Nhà nước. Khi lượng tiền lớn chưa giải ngân được khơi thông, doanh nghiệp có thêm nguồn thanh toán, giảm nợ quá hạn và gia tăng tiền gửi, qua đó góp phần hạ lãi suất.

Về dài hạn, theo ông, mục tiêu không phải đưa lãi suất xuống thấp nhất khu vực, mà là đạt mức hợp lý với đặc thù kinh tế Việt Nam.

Khi niềm tin vào đồng tiền được củng cố, đồng thời kiểm soát lạm phát và minh bạch hóa các thị trường như vàng, bất động sản, dòng vốn sẽ quay trở lại phục vụ sản xuất.

Bạn nghĩ sao về mặt bằng lãi suất hiện nay và tác động tới bất động sản? Comment bên dưới nhé!

#Asean #BatDongSan #KinhTeVietNam #LaiSuat #NganHang #NoXau #PhamXuanHoe #TinDung

Xem thêm
Nhịp Sống Nhà Đất

Chia sẻ bài viết