VietCredit quý I: Lợi nhuận trước thuế 578 tỷ đồng, nợ nhóm 2 lên 1.286 tỷ đồng
Quý I của VietCredit ghi nhận tăng trưởng lợi nhuận rất mạnh, nhưng đi cùng là áp lực chất lượng tín dụng tăng lên rõ rệt. Bài viết tóm gọn các chỉ số chính về lợi nhuận, tăng trưởng dư nợ, nguồn vốn và nợ xấu.
VietCredit quý I ghi nhận lợi nhuận trước thuế 578 tỷ đồng, tăng 662,14% so với cùng kỳ, trong khi nợ nhóm 2 đã lên 1.286 tỷ đồng và nợ xấu chạm 7,93%. Đây là bức tranh tăng trưởng rất nhanh, nhưng cũng cho thấy phép thử lớn nhất đang nằm ở chất lượng tín dụng.
Trong 5 giây đầu nhìn vào báo cáo, có 3 điểm cần chú ý: lợi nhuận bứt tốc, dư nợ tăng mạnh và nợ nhóm 2 phình lên rõ rệt. Với thị trường tài chính tiêu dùng, đây luôn là cặp chỉ số phải đọc cùng nhau, vì tăng trưởng càng nhanh thì áp lực kiểm soát rủi ro càng lớn.
Quý I năm nay, Công ty Tài chính Cổ phần Tín Việt (VietCredit - UpCoM: TIN) ghi nhận lợi nhuận sau thuế 462 tỷ đồng, tăng 508,84% so với cùng kỳ năm trước. Cùng lúc, thu nhập lãi thuần đạt 1.501 tỷ đồng, tăng 264,67%, còn tổng thu nhập hoạt động đạt 1.194 tỷ đồng, tăng 254,58%.
Đáng chú ý, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước chi phí dự phòng rủi ro tín dụng đạt 1.096 tỷ đồng, tăng 342,07%. Điều này cho thấy phần cải thiện đã xuất hiện ngay từ hoạt động cốt lõi, trong đó NII tiếp tục là động lực chính.
Theo số liệu công bố, VietCredit đã hoàn tất tái cấu trúc mô hình kinh doanh và chuyển trọng tâm sang các sản phẩm cho vay số hóa. Nhờ đó, đà tăng lợi nhuận đi cùng với tốc độ mở rộng tín dụng rất cao.
Dư nợ cho vay khách hàng tăng 262,36% so với cùng kỳ, còn tổng vốn huy động và vay tăng 181,12%, tổng tài sản tăng 177,78%. Tại ngày 31/3, dư nợ sản phẩm cho vay đạt 17.091 tỷ đồng, tăng 262% so với cùng kỳ năm trước. Thu nhập lãi từ sản phẩm cho vay trong quý đạt xấp xỉ 1.576 tỷ đồng, tăng 256,84%.
Về hiệu quả vận hành, CIR giảm từ 26,32% xuống 8,18%, tức giảm 18,14 điểm %. Chi phí hoạt động ở mức 97,6 tỷ đồng, tăng 10,14%, thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng của NII và TOI. Nói cách khác, quy mô cho vay mở rộng nhanh hơn chi phí, tạo ra hiệu ứng đòn bẩy hoạt động khá rõ.
Biên lãi ròng NIM tăng từ 15,87% lên 30,07%, trong khi chi phí tín dụng trên dư nợ cho vay bình quân tăng từ 2,31% lên 2,76%. Tức là mỗi đồng tài sản sinh lời đang tạo ra nhiều lãi hơn, nhưng đồng thời cũng mang theo mức hấp thụ rủi ro cao hơn so với cùng kỳ.
Cơ cấu thu nhập tiếp tục cho thấy lợi nhuận của VietCredit vẫn phụ thuộc chủ yếu vào cho vay. NII chiếm tới 125,8% TOI, trong khi lãi thuần từ hoạt động dịch vụ âm 313 tỷ đồng và thu nhập ngoài lãi âm 308 tỷ đồng. Điều này phản ánh mảng dịch vụ chưa tạo ra phần bù tương xứng cho bức tranh lợi nhuận chung.
Ở quy mô bảng cân đối, đến cuối tháng 3, tổng tài sản đạt 19.496 tỷ đồng, dư nợ cho vay khách hàng gộp đạt 17.091 tỷ đồng, dư nợ cho vay khách hàng ròng đạt 16.264 tỷ đồng và vốn chủ sở hữu đạt 2.460 tỷ đồng.
Tỷ trọng cho vay khách hàng trên tổng tài sản tăng từ 84,26% lên 87,66%. Danh mục cho vay cá nhân chiếm trên 94%, trong khi cho vay doanh nghiệp giữ tỷ trọng nhỏ. Điều này cho thấy VietCredit đang tập trung sâu hơn vào tín dụng tiêu dùng và cho vay số.
Chi phí tăng trưởng dày lên cùng sức ép dòng tiền và nguồn vốn
Dù lợi nhuận tăng mạnh, áp lực chi phí không hề giảm. Thu nhập ngoài lãi của VietCredit vẫn âm và còn âm sâu hơn trước, lên 308 tỷ đồng so với mức âm 75 tỷ đồng cùng kỳ. Cùng lúc, lỗ thuần từ hoạt động dịch vụ lên 313 tỷ đồng, tăng 315,55%.
Phần tăng này chủ yếu đến từ chi phí dịch vụ cho mảng cho vay số hóa, đặc biệt là chi phí vận hành và thu hộ qua đối tác. Riêng quý I, khoản chi này lên tới 305,6 tỷ đồng, tăng 342,52% so với cùng kỳ năm trước.
Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tiếp tục là khoản bào mòn lớn sau hoạt động kinh doanh cốt lõi. Trong quý I, VietCredit trích 518 tỷ đồng chi phí dự phòng, tăng 201,1% so với cùng kỳ. Dù mức tăng này thấp hơn tốc độ tăng dư nợ, quy mô tuyệt đối vẫn rất lớn.
Tổng dư nợ tín dụng tại ngày 31/03 đạt 17.091 tỷ đồng, tăng 262% so với cùng kỳ năm trước. Dư nợ tăng kéo theo chi phí dự phòng tăng, do áp dụng tỷ lệ trích lập theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Về dòng tiền, bức tranh cũng cho thấy sức ép vốn của giai đoạn tăng trưởng hiện tại. Dù LNST đạt 462 tỷ đồng, lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh lại âm 340 tỷ đồng. Phần âm này chủ yếu đến từ việc các khoản cho vay khách hàng tăng thêm khoảng 2.225 tỷ đồng trong kỳ, trong khi khoản sử dụng nguồn dự phòng để xử lý rủi ro lên tới gần 345 tỷ đồng.
Ngược lại, dòng tiền từ hoạt động tài chính dương gần 1.399 tỷ đồng, qua đó bù đắp phần thiếu hụt từ hoạt động kinh doanh. Điều này cho thấy doanh nghiệp vẫn đang cần quay vòng nguồn lực khá mạnh để nuôi tăng trưởng.
Tổng tài sản tăng 10,51% so với đầu năm, trong khi dư nợ cho vay khách hàng gộp tăng 14,97%, dư nợ cho vay khách hàng ròng tăng 14,44% và dự phòng rủi ro tín dụng cho vay khách hàng tăng 26,56%, lên 826 tỷ đồng.
Nguồn vốn cũng có sự dịch chuyển đáng kể trong một quý. Tổng nguồn vốn huy động và vay đạt 16.066 tỷ đồng, tăng 8,67% so với đầu năm. Trong đó, giấy tờ có giá phát hành tăng lên 8.954 tỷ đồng, tương đương tăng 48,42% so với đầu năm, trong khi tiền gửi của khách hàng tổ chức giảm 15,94%.
Đồng thời, vay từ tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước và các nguồn vay khác giảm 25,18%. Diễn biến này cho thấy VietCredit đang dựa nhiều hơn vào kênh giấy tờ có giá để tài trợ cho đà tăng trưởng.
Ở chiều vốn chủ sở hữu, con số này tăng 23,09% lên 2.460 tỷ đồng, giúp hệ số đòn bẩy tài chính giảm từ 8,83 lần xuống 7,92 lần. Tuy nhiên, giấy tờ có giá hiện chiếm 52,6% tổng nợ phải trả, trong khi tiền gửi của khách hàng tổ chức chỉ chiếm 12,1%.
Nợ nhóm 2 phình to, chất lượng tăng trưởng bước vào phép thử
Điểm đáng chú ý nhất của quý không nằm ở lợi nhuận, mà nằm ở nợ nhóm 2. Tại cuối tháng 3, nợ nhóm 2 của VietCredit đạt 1.286 tỷ đồng, tăng 29,97% so với đầu năm.
Cùng thời điểm, nợ xấu nội bảng nhóm 3 đến nhóm 5 tăng từ 1.022 tỷ đồng lên 1.356 tỷ đồng, tương đương tăng 32,62%. Tỷ lệ nợ xấu nội bảng (NPL) tăng từ 6,88% lên 7,93%, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) giảm từ 63,87% xuống 60,95%.
Điều này cho thấy phần rủi ro của bảng cân đối đã bộc lộ rõ hơn ngay trong lúc lợi nhuận tăng nhanh. Nợ nhóm 2 luôn được xem là vùng báo hiệu sớm nhất về áp lực chất lượng tín dụng.
VietCredit đã đi từ 362 tỷ đồng vào cuối quý I năm trước lên 989 tỷ đồng cuối năm ngoái, rồi lên tiếp 1.286 tỷ đồng chỉ sau ba tháng đầu năm nay. Tỷ lệ nợ nhóm 2 trên dư nợ tăng từ 3,3% cuối 2024 lên 7,5% vào cuối quý I.
Khi phần danh mục cần chú ý mở rộng nhanh hơn cùng tốc độ giải ngân, rủi ro chuyển tiếp sang nợ xấu trong các quý sau cũng tăng theo. Nợ xấu vì thế không chỉ tăng về tỷ lệ mà còn tăng mạnh về giá trị tuyệt đối.
Riêng nợ có khả năng mất vốn đã lên 233 tỷ đồng, cao hơn mức 214 tỷ đồng cuối năm ngoái và cao hơn nhiều so với 49 tỷ đồng của cùng kỳ năm trước. Tổng vùng cảnh báo, gồm nợ nhóm 2 và nợ xấu, đã lên tới 15,46% dư nợ.
Tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm liên tục từ 77,1% tại cuối quý I năm trước xuống 63,9% cuối năm ngoái và còn 60,9% vào cuối quý I năm nay. Bộ đệm dự phòng vì vậy mỏng đi tương đối so với quy mô nợ xấu.
Trong quý, chi phí dự phòng đã lên tới 518 tỷ đồng, tương đương khoảng 47,3% lợi nhuận thuần trước dự phòng rủi ro tín dụng. Trong khi đó, dòng tiền thu hồi từ các khoản nợ đã xử lý chỉ khoảng 5,6 tỷ đồng, còn khoản sử dụng nguồn dự phòng để xử lý rủi ro lên tới gần 345 tỷ đồng.
Khoảng cách này cho thấy hiệu quả thu hồi nợ chưa đủ để bù lại tốc độ hình thành nợ xấu mới. Lãi thuần từ hoạt động khác tăng 1.331,24%, chủ yếu liên quan đến hoạt động xử lý rủi ro đối với dư nợ thẻ vay.
Cụ thể, dư nợ thẻ vay thực hiện xử lý rủi ro trong quý I năm trước là 223,6 tỷ đồng, kéo theo chi phí liên quan các khoản phí của thẻ ở mức 9,6 tỷ đồng. Sang quý I năm nay, dư nợ thẻ vay thực hiện xử lý rủi ro giảm còn 12 tỷ đồng, khiến chi phí liên quan giảm xuống còn 0,6 tỷ đồng.
Tổng thể, quý I của VietCredit cho thấy hai chuyển động diễn ra đồng thời: một mặt, doanh nghiệp mở rộng nhanh hơn, sinh lãi mạnh hơn và tận dụng quy mô bảng cân đối hiệu quả hơn so với cùng kỳ; mặt khác, nợ nhóm 2 đã trở thành thước đo trực diện nhất của chất lượng tăng trưởng.
Nếu nợ nhóm 2 chững lại, nợ xấu ổn định hơn và tỷ lệ bao phủ nợ xấu phục hồi, nhịp tăng trưởng hiện tại sẽ có nền tảng ổn định hơn. Nếu vùng nợ cần chú ý tiếp tục phình ra, áp lực dự phòng nhiều khả năng sẽ gia tăng trong những quý sau.
Bạn nhìn nhận thế nào về bức tranh này: tăng trưởng đang đi trước rủi ro hay rủi ro đã bắt đầu đuổi kịp tăng trưởng? Comment bên dưới nhé!