KPI – Đòn bẩy nâng cao năng suất và chất lượng ngành than Việt Nam

Trong bối cảnh hiện nay, KPI đã vượt ra khỏi vai trò là công cụ đo lường thuần túy để trở thành trụ cột quản trị của nhiều doanh nghiệp hiện đại. Thực tiễn ngành than Việt Nam cho thấy, khi KPI được vận hành bài bản, năng suất lao động và chất lượng sản phẩm không chỉ được cải thiện mà còn tạo nên những kết quả vượt kế hoạch đầy ấn tượng.

Trong hoạt động của doanh nghiệp, chỉ số hiệu suất (KPI) là công cụ đo lường mức độ hoàn thành công việc của các phòng ban và cá nhân so với mục tiêu đã xác định. Việc thực hiện KPI hiệu quả hay không có tác động trực tiếp đến chất lượng điều hành và khả năng đạt được mục tiêu sản xuất – kinh doanh chung.

KPI – Đòn bẩy nâng cao năng suất và chất lượng ngành than Việt Nam

KPI đóng vai trò trong thực tiễn sản xuất quy mô lớn

Thực tiễn, trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, nâng cao hiệu quả hoạt động gắn với việc lượng hóa trách nhiệm và đóng góp của từng cá nhân là yêu cầu tất yếu. Vì vậy, vận dụng KPI một cách khoa học và đồng bộ đã trở thành giải pháp quản trị quan trọng, góp phần bảo đảm sự phát triển ổn định và bền vững của doanh nghiệp. Khi được thiết kế đúng và vận hành hiệu quả, KPI trở thành chiếc “la bàn” giúp doanh nghiệp đi đúng hướng, tối ưu nguồn lực và nâng cao chất lượng sản phẩm một cách bền vững.

Hiện nay, nhiều doanh nghiệp chỉ thực sự tạo ra bước đột phá về năng suất khi chuyển từ quản trị cảm tính sang quản trị bằng chỉ số. KPI giúp lãnh đạo nhìn rõ bức tranh toàn cảnh, còn người lao động hiểu rõ mục tiêu cụ thể của mình trong chuỗi giá trị chung. Mỗi chỉ số không chỉ phản ánh kết quả, mà còn tạo áp lực tích cực để cải tiến quy trình, giảm lãng phí và nâng cao hiệu quả lao động. Quan trọng hơn, KPI buộc doanh nghiệp phải trả lời những câu hỏi cốt lõi đó là điều gì thực sự tạo ra giá trị, đâu là điểm nghẽn cần tháo gỡ và mục tiêu nào cần ưu tiên trong từng giai đoạn.

Ở các doanh nghiệp sản xuất, tác động của KPI thể hiện rõ nét qua hai trục chính là năng suất và chất lượng. Khi năng suất được đo lường minh bạch, từng công đoạn sản xuất đều được soi chiếu bằng con số cụ thể, giúp giảm tình trạng chồng chéo, trì trệ hoặc phụ thuộc vào kinh nghiệm cá nhân. Song song với đó, các chỉ số về chất lượng sản phẩm buộc doanh nghiệp không thể chạy theo sản lượng đơn thuần mà phải kiểm soát chặt chẽ tiêu chuẩn kỹ thuật, độ ổn định và mức độ đáp ứng yêu cầu thị trường. Chính sự cân bằng này tạo nên hiệu quả vượt trội, thay vì những thành tích ngắn hạn thiếu bền vững.

Từ sự phát triển chung của doanh nghiệp, nhìn vào ngành than Việt Nam có thể thấy rõ hơn vai trò của KPI trong thực tiễn sản xuất quy mô lớn. Là ngành công nghiệp nền tảng, chịu áp lực vừa đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, vừa nâng cao hiệu quả kinh tế, ngành than buộc phải đổi mới phương thức quản trị để thích ứng với yêu cầu ngày càng cao của thị trường và xã hội. Trong bối cảnh đó, việc áp dụng các công cụ quản trị hiện đại, trong đó có KPI, đã trở thành yếu tố then chốt.

Thuận lợi vượt kế hoạch nhờ quản trị theo KPI

Theo các báo cáo chuyên ngành, ngay từ tháng đầu năm, hoạt động sản xuất than đã ghi nhận những kết quả tích cực. Sản lượng than nguyên khai và than sạch đều đạt và vượt kế hoạch đề ra, tăng trưởng rõ rệt so với cùng kỳ năm trước. Những con số dưới đây không chỉ phản ánh nỗ lực sản xuất, mà còn cho thấy hiệu quả của việc tổ chức điều hành theo hướng bám sát chỉ tiêu, kiểm soát tiến độ và chất lượng ngay từ đầu kỳ. Đặc biệt, việc duy trì nhịp độ sản xuất ổn định trong điều kiện thị trường còn nhiều biến động cho thấy năng lực điều hành ngày càng linh hoạt và khoa học hơn.

KPI – Đòn bẩy nâng cao năng suất và chất lượng ngành than Việt Nam

Hoạt động khai thác than đạt nhiều kết quả đáng khích lệ

Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) cho biết được hỗ trợ bởi thời tiết thuận lợi, hoạt động khai thác than trong tháng 1 đạt nhiều kết quả đáng khích lệ. Cụ thể, than nguyên khai đạt 3,38 triệu tấn, vượt 6,5% kế hoạch tháng và tăng 14,5% so với cùng kỳ. Than sạch sản xuất đạt 3,43 triệu tấn, hoàn thành 100,6% kế hoạch và tăng 11,5% so với cùng kỳ năm 2025.

Đáng chú ý, sản lượng tiêu thụ than ước đạt 3,88 triệu tấn, cho thấy nhu cầu thị trường duy trì ở mức cao. Các chỉ tiêu kỹ thuật quan trọng như mét lò đào cũng đạt 25,71 nghìn mét, vượt 6,6% kế hoạch và tăng ấn tượng 39,7% so với cùng kỳ. Bốc xúc đất đá đạt 9,34 triệu m3, vượt 4,2% kế hoạch tháng.thuật chặt chẽ và duy trì tốt công tác an toàn lao động.

Mảng khoáng sản cũng có tháng 1 khởi sắc với nhiều sản phẩm vượt kế hoạch đáng kể. Sản xuất Alumina đạt 124 nghìn tấn, vượt 18,1% kế hoạch tháng. Tiêu thụ Alumina đạt 79,8 nghìn tấn, tăng 40,2% so với cùng kỳ, trong khi khai thác quặng bauxit đạt 680 nghìn tấn, tăng 31,8% so với cùng kỳ.

Ngành đồng cũng ghi nhận kết quả tích cực với sản xuất tinh quặng đồng đạt 9,6 nghìn tấn, hoàn thành 100,1% kế hoạch và tăng 13,1% so với cùng kỳ. Đặc biệt ấn tượng là sản xuất kẽm thỏi đạt 950 tấn, vượt 21,8% kế hoạch và tăng gấp đôi (109,6%) so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý nhất là mặt hàng đồng tấm với tiêu thụ đạt 3,6 nghìn tấn, vượt 80% kế hoạch và tăng gấp 3 lần so với cùng kỳ, cho thấy nhu cầu thị trường đối với sản phẩm này đang rất cao.

Sản xuất điện đạt 836 triệu kWh, tương đương với cùng kỳ năm trước. Lĩnh vực vật liệu nổ công nghiệp cũng có sự tăng trưởng tốt với sản xuất thuốc nổ đạt 5,8 nghìn tấn, tăng 6,1% so với cùng kỳ. Đặc biệt, sản xuất Amon Nitrat đạt 17,5 nghìn tấn, vượt 16,7% kế hoạch và tăng 55,7% so với cùng kỳ. Tiêu thụ sản phẩm này đạt 11,2 nghìn tấn, tăng gần gấp đôi (96,6%) so với cùng kỳ.

Tổng hợp toàn bộ hoạt động, doanh thu hợp nhất của TKV trong tháng 1/2026 ước đạt 13,68 nghìn tỷ đồng, tăng 11,9% so với cùng kỳ. Tập đoàn dự kiến nộp ngân sách nhà nước 2,5 nghìn tỷ đồng, thể hiện đóng góp quan trọng vào nguồn thu quốc gia.

Dự báo về tháng 2/2026, TKV cho biết đây sẽ là tháng đặc biệt với kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ, số ngày sản xuất thấp hơn bình quân. Tuy nhiên, tập đoàn vẫn đặt mục tiêu sản xuất 3,3 triệu tấn than nguyên khai, 3,33 triệu tấn than sạch và tiêu thụ 4,0 triệu tấn than.

Trước đó, ngành than đã khép lại một năm 2025 với nhiều chỉ tiêu quan trọng hoàn thành và vượt kế hoạch, từ sản lượng khai thác, chế biến đến tiêu thụ. Đây không phải là kết quả của sự tăng tốc nhất thời, mà là thành quả của quá trình quản trị được chuẩn hóa, trong đó KPI đóng vai trò trung tâm. Việc theo dõi sát sao các chỉ số sản xuất, tiêu hao chi phí, an toàn lao động và chất lượng sản phẩm đã giúp các đơn vị kịp thời điều chỉnh phương án sản xuất, hạn chế rủi ro và phát huy tối đa năng lực hiện có.

Quảng Ninh được biết đến là “thủ phủ” của ngành than, nhiều đơn vị đã ghi nhận một năm “thắng lợi” khi sản lượng than sạch vượt kế hoạch, tiêu thụ đạt mức cao, thu nhập người lao động được cải thiện và đời sống ổn định hơn. Đằng sau những kết quả đó là sự chuyển biến trong tư duy quản trị, khi hiệu quả không còn được đánh giá cảm tính mà được lượng hóa bằng các chỉ số cụ thể, gắn với trách nhiệm của từng tập thể và cá nhân. KPI ở đây không chỉ là công cụ kiểm soát, mà còn trở thành động lực thúc đẩy tinh thần kỷ luật,  giá trị cốt lõi đã làm nên bản sắc của ngành than Việt Nam.

Năm 2025, trong bối cảnh chung, Công ty CP Kinh doanh than Cẩm Phả cũng đối mặt với những thách thức lớn chưa từng có từ thị trường tiêu thụ than. Giữa lúc nhu cầu than cho điện giảm mạnh, giá bán chịu sức ép lớn, đơn vị vẫn nỗ lực thực hiện tối đa chỉ tiêu tiêu thụ Tập đoàn giao với hơn 2,17 triệu tấn than, bằng 95% kế hoạch năm. Đây là một trong những đơn vị đạt tỷ lệ tiêu thụ cao nhất TKV trong năm nay. Đặc biệt, đơn vị đã hoàn thành chỉ tiêu về lợi nhuận và thu nhập cho người lao động với bình quân 18 triệu đồng/người/tháng.

Theo ông Đinh Ngọc Anh, Phó Giám đốc Công ty CP Kinh doanh than Cẩm Phả, cho biết, kết quả đó đến từ việc chủ động bám sát diễn biến thị trường, linh hoạt phương án tiêu thụ, duy trì ổn định các khách hàng truyền thống, đồng thời phối hợp chặt chẽ với các đơn vị sản xuất để điều tiết nguồn hàng phù hợp. Trong bức tranh khó khăn chung của ngành Than năm 2025, sự nỗ lực của các đơn vị cuối nguồn đã góp phần quan trọng giảm áp lực tồn kho, giữ nhịp sản xuất liên tục cho các mỏ. 

Kết thúc năm 2025, TKV cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhiều chỉ tiêu quan trọng đạt và vượt kế hoạch, khẳng định sức chống chịu và năng lực điều hành của một tập đoàn kinh tế trụ cột. Trong đó, khối sản xuất kinh doanh than vẫn là “xương sống” của TKV. Sản lượng than sạch đạt 38,63 triệu tấn, vượt kế hoạch; đặc biệt, sản xuất than từ đất đá lẫn than đạt gần 200% kế hoạch, cho thấy hiệu quả của các giải pháp kỹ thuật và quản trị tài nguyên.

Doanh thu toàn Tập đoàn ước đạt 161.035 tỷ đồng; lợi nhuận đạt 6.980 tỷ đồng, bằng 205% kế hoạch năm – một con số đặc biệt ấn tượng trong bối cảnh thị trường nhiều bất lợi. Nộp ngân sách Nhà nước đạt 25.500 tỷ đồng, tiếp tục khẳng định vai trò đóng góp lớn của ngành Than đối với nền kinh tế. Dù tiêu thụ than gặp khó, doanh thu và lợi nhuận giảm so với kế hoạch, nhưng thu nhập của thợ mỏ vẫn đạt gần 109% kế hoạch. Tiền lương bình quân toàn Tập đoàn gần 19,5 triệu đồng/người/tháng, tăng so với năm trước.

Báo cáo của TKV cho thấy, những năm qua, tập đoàn đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, giữ vững vai trò là một trong những trụ cột bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

Thách thức

Tuy nhiên, việc áp dụng KPI trong ngành than cũng không phải không gặp thách thức. Đặc thù sản xuất phụ thuộc lớn vào điều kiện địa chất, thời tiết và yếu tố an toàn khiến việc xây dựng bộ chỉ số vừa sát thực tiễn, vừa đủ linh hoạt là bài toán không dễ. Nếu KPI quá cứng nhắc, doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng chạy theo con số, gây áp lực không cần thiết cho người lao động. Ngược lại, nếu KPI quá chung chung, vai trò định hướng và kiểm soát sẽ bị suy giảm. Do đó, thách thức lớn nhất không nằm ở việc có KPI hay không, mà là cách thiết kế và vận hành KPI sao cho phù hợp với đặc thù ngành.

KPI – Đòn bẩy nâng cao năng suất và chất lượng ngành than Việt Nam

Đòi hỏi sự đầu tư bài bản về dữ liệu, công nghệ và nguồn nhân lực

Bên cạnh đó, thị trường năng lượng biến động, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu ngày càng cao về bảo vệ môi trường cũng đặt ra yêu cầu mới cho hệ thống KPI của ngành than. Các chỉ số không chỉ dừng lại ở sản lượng hay doanh thu, mà cần mở rộng sang hiệu quả sử dụng tài nguyên, an toàn môi trường và phát triển bền vững. Đây là bước chuyển tất yếu, đòi hỏi sự đầu tư bài bản về dữ liệu, công nghệ và nguồn nhân lực.

Dù còn không ít khó khăn, thực tiễn từ ngành than cho thấy, khi KPI được đặt đúng vị trí trong hệ thống quản trị, hiệu quả mang lại là rất rõ ràng. KPI giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong điều hành, minh bạch hơn trong đánh giá và linh hoạt hơn trong thích ứng. Quan trọng hơn, KPI tạo ra một ngôn ngữ chung giữa lãnh đạo và người lao động, giữa mục tiêu chiến lược và hành động cụ thể, từ đó hình thành văn hóa làm việc hướng tới hiệu quả và chất lượng.

Nhìn rộng ra, phát triển KPI của ngành than là gợi mở quan trọng cho nhiều lĩnh vực sản xuất khác. Trong bối cảnh nền kinh tế đòi hỏi tăng trưởng đi cùng chất lượng và tính bền vững, việc áp dụng KPI không thể chỉ mang tính phong trào. KPI cần được xem là công cụ chiến lược, được đầu tư nghiêm túc, vận hành linh hoạt và gắn chặt với con người – yếu tố trung tâm của mọi quá trình sản xuất.

Nâng cao đời sống công nhân phải gắn chặt với nâng cao năng suất

Vừa qua, trong chuyến công tác tại Quảng Ninh, Tổng Bí thư Tô Lâm và Đoàn công tác Trung ương đã gặp mặt, chúc Tết công nhân ngành than. Tổng Bí thư cho biết, tinh thần xuyên suốt của Đại hội XIV là phục vụ Nhân dân, vì Nhân dân, không ngừng nâng cao đời sống của Nhân dân, của người lao động; tập trung mọi nguồn lực để xây dựng và phát triển đất nước nhanh, bền vững; lấy con người làm trung tâm, lấy năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả làm thước đo chủ yếu.

KPI – Đòn bẩy nâng cao năng suất và chất lượng ngành than Việt Nam

Tổng Bí thư Tô Lâm, Thủ tướng Phạm Minh Chính cùng Đoàn công tác thăm khai trường Công ty CP Than Đèo Nai - Cọc Sáu

Tổng Bí thư đề nghị, đối với giai cấp công nhân và ngành than - khoáng sản, toàn ngành cần tiếp tục đổi mới tổ chức sản xuất, đẩy mạnh cơ giới hóa, tự động hóa, ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong điều hành, quản trị mỏ. Tinh thần “Kỷ luật và Đồng tâm” phải được cụ thể hóa thành kỷ luật công nghệ, kỷ luật an toàn, kỷ luật lao động; coi đây là yêu cầu bắt buộc trong tổ chức sản xuất, nhằm giảm tổn thất tài nguyên, giảm thời gian chết, nâng cao hiệu quả sử dụng máy móc, thiết bị và sức lao động.

KPI – Đòn bẩy nâng cao năng suất và chất lượng ngành than Việt Nam

Tổng Bí thư Tô Lâm và Thủ tướng Phạm Minh Chính tặng quà cho công nhân

Toàn ngành phải gắn tăng năng suất với tăng thu nhập và cải thiện đời sống công nhân; nâng cao đời sống công nhân phải gắn chặt với nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động. Thu nhập, tiền lương, tiền thưởng của công nhân phải phản ánh đúng giá trị lao động, trình độ tay nghề và mức độ đóng góp; đồng thời có cơ chế khuyến khích mạnh mẽ những tập thể, cá nhân lao động giỏi, sáng tạo, kỷ luật tốt.

Tổng Bí thư yêu cầu, cùng với thu nhập, cần đặc biệt quan tâm đến điều kiện sinh hoạt, nhà ở, y tế, giáo dục, văn hóa cho công nhân và gia đình công nhân. Đây là trách nhiệm chung của doanh nghiệp, tổ chức công đoàn và chính quyền địa phương; xây dựng môi trường sống an toàn, văn minh, gắn bó sẽ giúp công nhân yên tâm làm việc lâu dài, gắn bó với mỏ, với ngành.

Tổng Bí thư lưu ý, bảo đảm an toàn lao động và sức khỏe nghề nghiệp - đây là mệnh lệnh chính trị, là giới hạn đạo đức trong tổ chức sản xuất; tuyệt đối không được đánh đổi an toàn của người lao động lấy sản lượng và tăng trưởng; cần tăng cường giám sát hiện trường, ứng dụng công nghệ cảnh báo sớm rủi ro, nâng cao ý thức chấp hành quy trình, kỷ luật an toàn của từng công nhân và từng tổ đội; chăm lo sức khỏe nghề nghiệp, phòng chống bệnh nghề nghiệp chính là đầu tư cho nguồn nhân lực bền vững của ngành.

Trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh, mỗi công nhân cần được tạo điều kiện học tập, đào tạo lại, nâng bậc tay nghề, làm chủ thiết bị và công nghệ mới. Xây dựng đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề, có tác phong công nghiệp, kỷ luật cao, chính là xây dựng lực lượng nòng cốt để thực hiện thành công mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Tổng Bí thư nhấn mạnh phát huy vai trò của tổ chức Đảng, Công đoàn trong doanh nghiệp; xây dựng tổ chức Đảng trong doanh nghiệp vững mạnh là yếu tố quyết định để lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất - kinh doanh, chăm lo đời sống công nhân và giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Công đoàn phải thực sự là chỗ dựa tin cậy của công nhân; tăng cường đối thoại, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, kịp thời giải quyết những vấn đề phát sinh ngay từ cơ sở.

Cùng với đó, toàn ngành cần đặc biệt quan tâm công tác phát triển đảng viên trong công nhân trực tiếp sản xuất. Đây là yêu cầu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhằm giữ vững và làm sâu sắc hơn bản chất giai cấp công nhân của Đảng trong điều kiện mới. Phát triển Đảng trong công nhân không chỉ là tăng về số lượng, mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng: chú trọng bồi dưỡng, kết nạp những công nhân ưu tú, có tay nghề, có kỷ luật, có uy tín trong tập thể lao động; qua đó tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng ngay từ công trường, phân xưởng, hầm lò.

Với truyền thống vẻ vang của giai cấp công nhân mỏ Quảng Ninh là niềm tự hào chung của Đảng và dân tộc, trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, Tổng Bí thư khẳng định, Đảng đặt niềm tin lớn lao vào giai cấp công nhân nói chung, công nhân mỏ Quảng Ninh nói riêng – lực lượng trực tiếp tạo ra của cải vật chất, giữ vai trò nòng cốt trong nâng cao năng suất lao động, bảo đảm an ninh năng lượng và thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững...

Bước sang thực hiện nhiệm vụ năm 2026, chào mừng thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, TKV đã xây dựng kế hoạch và phấn đấu hoàn thành vượt mức mọi chỉ tiêu kế hoạch đề ra, cam kết với Đảng, Nhà nước không để thiếu than giao cho các Nhà máy điện do Tập đoàn có cam kết cung cấp than, đồng thời triển khai thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, nhất là Nghị quyết số 57, Nghị quyết số 70, Nghị quyết số 79, Nghị quyết số 80; nghiêm túc, quyết liệt triển khai nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp và Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

Có thể khẳng định rằng, KPI không phải hoàn toàn là giải quyết mọi vấn đề, nhưng đây chính là đòn bẩy quan trọng giúp doanh nghiệp và cả ngành than Việt Nam nâng cao năng suất, cải thiện chất lượng sản phẩm và tạo nền tảng vững chắc cho phát triển bền vững. Khi con số được đặt đúng chỗ và con người được trao đúng động lực, hiệu quả vượt trội không còn là mục tiêu xa vời, mà trở thành kết quả tất yếu của một hệ thống quản trị hiện đại và kỷ luật.