Sổ đỏ chỉ đứng tên 1 người không đồng nghĩa là tài sản riêng
Bộ Tư pháp vừa làm rõ: sổ đỏ đứng tên 1 người chưa chắc là tài sản riêng, nếu không có căn cứ chứng minh nguồn gốc.
Sổ đỏ chỉ đứng tên vợ hoặc chồng không đương nhiên là tài sản riêng. Cục Pháp luật dân sự - kinh tế (Bộ Tư pháp) khẳng định, nếu muốn xác định là tài sản riêng thì người đứng tên phải có căn cứ và tài liệu chứng minh theo quy định.
Vì sao sổ đỏ chỉ ghi 1 tên chưa đủ để kết luận?
Theo Cục Pháp luật dân sự - kinh tế, tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân, trong đó có quyền sử dụng đất, về nguyên tắc được xác định là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc hình thành từ tài sản riêng.
Vì vậy, việc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ ghi tên vợ hoặc chồng không đồng nghĩa đó là tài sản riêng của người đứng tên.
Khi nào được coi là tài sản riêng?
Nếu một bên cho rằng quyền sử dụng đất là tài sản riêng, cần có hồ sơ, giấy tờ chứng minh rõ nguồn gốc tài sản, chẳng hạn như giấy tờ thể hiện việc được tặng cho riêng, thừa kế riêng hoặc hình thành từ tài sản riêng.
Cục cũng dẫn quy định của Luật Đất đai năm 2024 cho biết: nếu giấy chứng nhận trước đây chỉ ghi tên vợ hoặc chồng thì người dân có quyền yêu cầu cấp đổi để ghi đầy đủ tên của cả hai vợ chồng trên giấy chứng nhận.
Có bắt buộc công chứng văn bản xác định thành viên hộ gia đình sử dụng đất không?
Bộ Tư pháp cho biết Luật Đất đai năm 2024 giao cho các thành viên trong hộ gia đình tự thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc xác định những người có chung quyền sử dụng đất để ghi trên giấy chứng nhận.
Pháp luật hiện hành không quy định bắt buộc văn bản thỏa thuận này phải được công chứng hoặc chứng thực. Tuy nhiên, nếu người dân có nhu cầu, tổ chức hành nghề công chứng hoặc cơ quan có thẩm quyền có thể thực hiện chứng thực chữ ký trên văn bản.
Cục lưu ý, việc chứng thực chữ ký chỉ xác nhận chữ ký là của người yêu cầu chứng thực; cơ quan chứng thực không chịu trách nhiệm về nội dung văn bản. Người ký phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về các thông tin, cam kết đã ghi.
Đất của hộ gia đình, khi nào vợ/chồng có quyền liên quan?
Bộ Tư pháp cho biết cần phân biệt giữa quyền sử dụng đất của hộ gia đình và chế độ tài sản chung của vợ chồng.
Luật Đất đai năm 2024 quy định hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng, cùng sinh sống và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận hoặc nhận chuyển quyền sử dụng đất.
Như vậy, quyền sử dụng đất của hộ gia đình được xác lập theo điều kiện và thời điểm cụ thể của pháp luật đất đai. Việc một thành viên sau đó kết hôn không làm phát sinh đương nhiên quyền sử dụng đất của người vợ hoặc người chồng đối với phần quyền sử dụng đất đã được xác lập trước đó.
Tuy nhiên, dưới góc độ pháp luật hôn nhân và gia đình, phần quyền sử dụng đất mà thành viên hộ gia đình được hưởng có thể trở thành tài sản chung của vợ chồng nếu thuộc trường hợp pháp luật quy định là tài sản chung.
Điều người dân cần lưu ý
Khi thực hiện các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cần xem xét đồng thời quy định của Luật Đất đai và Luật Hôn nhân và gia đình để xác định đúng chủ thể có quyền và nghĩa vụ liên quan.
Theo Cục Pháp luật dân sự - kinh tế, các hướng dẫn này nhằm tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn công chứng và đăng ký đất đai kể từ khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực.
Bộ Tư pháp cũng nhấn mạnh việc xác định chủ thể có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cần được thực hiện thận trọng, để hạn chế tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch bất động sản.
Bạn nghĩ sao về quy định này? Comment bên dưới nhé!