Doanh nghiệp tiên phong ứng dụng các công cụ cải tiến năng suất

Công ty TNHH Tương Lai (ở xã Long Thành, Đồng Nai) vinh dự là một trong 25 doanh nghiệp trong nhóm những công ty thuộc chuỗi cung ứng sản phẩm công nghiệp hỗ trợ của Bộ Công Thương triển khai trong những năm qua. Công ty cũng là một trong những doanh nghiệp điển hình lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ được đón tiếp nhiều đoàn doanh nghiệp khác đến giao lưu, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm sản xuất.

Nhờ những nỗ lực bền bỉ, Công ty TNHH Tương Lai không chỉ khẳng định được vị thế tại thị trường trong nước, mà còn vươn ra thị trường quốc tế, trở thành một trong số ít doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam đủ tiêu chuẩn xuất khẩu sản phẩm sang Nhật Bản – một trong những thị trường khó tính nhất thế giới.

Doanh nghiệp tiên phong ứng dụng các công cụ cải tiến năng suất

Công ty TNHH Tương Lai triển khai dự án cải tiến năng suất và chất lượng tổng thể với sự đồng hành của Viện Năng suất Việt Nam

Theo ông Trương Quốc Cường, Giám đốc Công ty TNHH Tương Lai, để có thể hợp tác được với các tập đoàn lớn, đi vào chuỗi cung ứng là không hề đơn giản. Sau hàng chục năm phấn đấu, từ xưởng sản xuất nhỏ của gia đình, đến nay doanh nghiệp của ông đã từng bước vươn lên đạt tầm quy mô vừa trong sản xuất các sản phẩm nhựa, cao su kỹ thuật dùng cho ngành xe máy, ô tô. Hàng trăm tỷ đồng đã được đầu tư để nâng cấp trang thiết bị, máy móc. Doanh nghiệp cũng áp dụng kinh nghiệm quản lý tiên tiến, trong đó đặc biệt quan tâm đến quy trình sản xuất sạch nên ngày càng nhận được nhiều sự hợp tác của đối tác trong nước và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI).

Trong thời gian vừa qua, nhận thức rõ tầm quan trọng của việc tinh gọn sản xuất và tối ưu hóa hiệu suất, Công ty TNHH Tương Lai đã bắt tay triển khai dự án cải tiến năng suất và chất lượng tổng thể với sự đồng hành của Viện Năng suất Việt Nam trong khuôn khổ chương trình cải tiến liên tục (TPI) – sáng kiến hỗ trợ doanh nghiệp do Bộ Công Thương chủ trì. Với các công cụ quản trị hiện đại như 5S, Kaizen, TPM, OEE, kiểm soát trực quan, phân tích lãng phí theo 7 loại và quản lý hiệu quả bằng KPI, Công ty đã bước đầu thiết lập nền tảng vận hành tinh gọn, minh bạch và hiệu quả.

Công ty đẩy mạnh áp dụng TPM (Total Productive Maintenance) – hệ thống bảo trì năng suất toàn diện  đảm bảo độ sẵn sàng của thiết bị và hạn chế tối đa thời gian dừng máy ngoài kế hoạch. Việc lập kế hoạch bảo trì định kỳ, kết hợp đào tạo kỹ năng vận hành, bảo dưỡng cho công nhân, đã giúp thiết bị vận hành ổn định, kéo dài tuổi thọ máy móc và hạn chế lỗi phát sinh.

Công ty chú trọng phát triển văn hóa Kaizen – cải tiến liên tục bằng cách thành lập các nhóm cải tiến nhỏ và tổ chức định kỳ các buổi chia sẻ sáng kiến. Những đề xuất xuất phát từ thực tế sản xuất không chỉ giúp giải quyết các vấn đề tồn tại mà còn góp phần thúc đẩy sự sáng tạo và gắn kết trong đội ngũ lao động.

Sau một thời gian triển khai, doanh nghiệp thu được nhiều kết quả ấn tượng: năng suất lao động tăng 20%, hiệu suất thiết bị toàn phần (OEE) tăng từ 79% lên 87%, tỷ lệ hoàn thành lệnh sản xuất đạt 98%, 100% đơn hàng giao đúng hạn. Đặc biệt, công nhân phân xưởng cao su có thể vận hành ba máy thay vì chỉ một, sản lượng trên người tăng gấp ba lần. Các chỉ số chất lượng cũng cải thiện rõ rệt: khiếu nại khách hàng giảm xuống dưới một vụ mỗi tháng, tỷ lệ lỗi sản phẩm giảm còn 1%, và lỗi nội bộ chỉ còn rải rác vài trường hợp. 

Doanh nghiệp tiên phong ứng dụng các công cụ cải tiến năng suất

Cộng đồng doanh nghiệp kỳ vọng chính quyền tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh

Ở góc độ đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp, theo Chủ tịch Liên đoàn doanh nghiệp tỉnh Đồng Nai Đặng Văn Điềm, khảo sát cho thấy vấn đề tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất, dòng vốn tín dụng xanh và hỗ trợ kết nối vào chuỗi cung ứng sản xuất là điều mà các doanh nghiệp đang cần nhất. Cộng đồng doanh nghiệp kỳ vọng chính quyền tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển.

Cũng theo ông Điềm, với Nghị quyết 68-NQ/TW, ngày 4-5-2025 của Bộ Chính trị, lần đầu tiên vai trò của KTTN được xác định là động lực quan trọng nhất cho sự phát triển. Thời gian qua, cụ thể hóa nghị quyết trên, nhiều chương trình chính sách, nhiều hoạt động của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đã được triển khai để khẳng định và thúc đẩy phát triển KTTN. Đây là cơ hội nhưng cũng là thách thức, đòi hỏi cộng đồng doanh nghiệp phải năng động nắm bắt, vươn mình phát triển.

Theo ông Hoàng Xuân Hiệp - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp và Thương mại Hà Nội, với một nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam, Chương trình 1322 mang đến các công cụ cải tiến, hệ thống quản lý thiết thực giúp doanh nghiệp sử dụng hiệu quả hai công cụ cạnh tranh rất mạnh là năng suất và chất lượng. Trải qua 5 năm đầu (giai đoạn 2021-2025) với nhiều kết quả tích cực, để Chương trình 1322 phát huy hiệu quả mạnh mẽ hơn trong 5 năm tới (giai đoạn 2026-2030), theo ông Hiệp, điều quan trọng là phải gắn chặt việc triển khai với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.

Trong đó, nhu cầu cốt lõi của doanh nghiệp chính là nâng cao năng lực cạnh tranh bằng năng suất, chất lượng, tạo ra giá trị gia tăng cao thông qua các hoạt động đổi mới sáng tạo như phát triển sản phẩm tái chế; ứng dụng công nghệ số, công nghệ xanh vào quy trình sản xuất; ứng dụng hệ thống quản lý thông minh dựa trên nền tảng IoT, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo (AI); đổi mới mô hình sản xuất kinh doanh theo chuỗi,…

Đồng thời, các hoạt động của Chương trình 1322 cần ưu tiên đầu tư vào những khâu trực tiếp tạo ra năng suất cao trong toàn bộ chuỗi giá trị của các sản phẩm như: thiết kế sản phẩm - yếu tố đầu tiên và có đóng góp lớn vào việc tạo ra giá trị gia tăng của sản phẩm; tham gia và phát triển công nghiệp hỗ trợ - nhằm nâng tỷ lệ nội địa hóa, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu; và ứng dụng công nghệ trong quản trị, sản xuất và tiếp cận thị trường - giúp mở rộng sự hiện diện tại các thị trường lớn.

Nguyễn Liên