Nên vay vàng trong dân hay khuyến khích người dân bán vàng?

Đề xuất vay vàng trong dân gây tranh luận: có thể huy động 400 - 500 tấn vàng, nhưng rủi ro giá và thanh khoản cũng không nhỏ.

Nên vay vàng trong dân hay khuyến khích người dân bán vàng?

Nên vay vàng trong dân hay khuyến khích người dân bán vàng? Đề xuất cho phép doanh nghiệp vay vàng trong dân đang gây tranh luận khi lượng vàng nằm trong dân được ước tính khoảng 400 - 500 tấn.

Đề xuất gây chú ý là gì?

Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam kiến nghị cho phép doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh vàng trang sức được vay vàng trong dân với lãi suất thỏa thuận.

Lý do được đưa ra là hiện chưa có cơ chế pháp lý hướng dẫn huy động nguồn vàng trong nước làm nguyên liệu sản xuất, trong khi nguồn lực này đang nằm im trong dân.

Góc nhìn ủng hộ: có thể giảm lãng phí nguồn lực

TS. Nguyễn Trí Hiếu cho rằng đề xuất này hợp lý vì vàng trong dân nếu không được sử dụng hiệu quả thì là sự lãng phí cho nền kinh tế.

Theo ông, vàng là nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp, chế tác và cũng là tài sản bảo đảm, thế chấp khi vay tiền. Nếu doanh nghiệp được vay vàng để sản xuất, nền kinh tế có thể hưởng lợi, đồng thời giảm nhu cầu nhập khẩu vàng, bạc.

Có nguồn vàng dồi dào sẽ hạ chi phí đầu vào, giảm giá vàng và kích thích ngành chế tác trong nước, ông Hiếu nhấn mạnh.

Rủi ro nào có thể phát sinh?

Dù vậy, ông Hiếu cũng cảnh báo nếu không cẩn thận, chính sách này có thể gây “vàng hóa” nền kinh tế.

Rủi ro đầu tiên là kỳ hạn và thanh khoản: doanh nghiệp vay vàng trong thời hạn 3 tháng, 6 tháng hay 1 năm, nhưng việc bán vàng để trả cho dân có thể chậm hơn.

Rủi ro thứ hai là rủi ro giá: nếu vay khi giá thấp nhưng đến lúc trả lại giá cao, doanh nghiệp sẽ phải mua vàng giá cao để hoàn trả.

Ngoài ra, nếu kiểm soát không tốt còn có thể xuất hiện tình trạng biến tướng vay vàng, huy động vàng trá hình, gây bất ổn cho nền kinh tế.

Muốn làm thì cần điều kiện gì?

Ông Hiếu cho rằng nếu triển khai thì պետք cần thử nghiệm kỹ, trước mắt chỉ nên cho một số doanh nghiệp lớn, minh bạch, có tiềm lực tài chính mạnh tham gia.

Ông cũng đề xuất có thêm các công cụ phái sinh như mua vàng trong tương lai phối hợp thị trường tài chính quốc tế, đồng thời yêu cầu doanh nghiệp phải có ngân hàng bảo lãnh để đến đáo hạn ngân hàng sẽ trả vàng cho người dân.

Ngân hàng Nhà nước cần giám sát chặt chẽ và phát hành chứng chỉ vàng, trong đó ghi rõ số lượng vàng, loại vàng, thương hiệu vàng. Ngân hàng Nhà nước cũng lưu trữ vàng và đến ngày đáo hạn sẽ trả lại đúng số vàng người dân đã gửi.

Ông Hiếu lưu ý thêm trường hợp người dân rút trước hạn thì cũng cần có quy chế rõ ràng để quản trị.

Ông còn đề xuất Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính tổ chức sàn vàng, cho phép nhà kinh doanh giao dịch vàng trên tài khoản. Khi đó, chứng chỉ vàng do nhà kinh doanh phát hành cũng phải đáp ứng tiêu chuẩn tương tự chứng chỉ của Ngân hàng Nhà nước.

Nếu làm được những điều này thì sẽ tăng tính minh bạch cho thị trường vàng, chúng ta có khả năng kéo được vàng trong dân ra nền kinh tế, ông Hiếu nói.

Nên khuyến khích người dân bán vàng?

Ở chiều ngược lại, ông Nguyễn Quang Huy, chuyên gia Khoa Tài chính - Ngân hàng, Đại học Nguyễn Trãi, cho rằng nếu doanh nghiệp vay vàng trong dân có trả lãi thì thực chất đã mang bản chất của một hoạt động tín dụng.

Theo ông, khi đã là tín dụng thì các yêu cầu về chuẩn hóa, bảo đảm và kỷ luật thị trường phải được đặt lên hàng đầu.

Ông Huy đặt câu hỏi: nếu doanh nghiệp gặp khó khăn tài chính hoặc ngừng hoạt động thì nghĩa vụ hoàn trả vàng sẽ ra sao, trong khi người dân không có cơ chế bảo vệ tương đương hệ thống tiền gửi?

Vì vậy, ông cho rằng cần đặt ra tiêu chí tham gia rất chặt chẽ, gồm năng lực tài chính, lịch sử tuân thủ pháp luật và khả năng quản trị rủi ro. Quy mô huy động cũng nên giới hạn theo vốn tự có để tránh rủi ro đòn bẩy.

Minh bạch là yếu tố then chốt

Ông Huy nhấn mạnh doanh nghiệp cần công bố định kỳ về quy mô huy động, mục đích sử dụng vàng và các rủi ro liên quan. Kiểm toán độc lập cũng nên là yêu cầu bắt buộc để xác nhận nghĩa vụ và tài sản.

Trong bối cảnh Việt Nam đang theo định hướng hạn chế “vàng hóa” nền kinh tế, ông cho rằng việc mở lại cơ chế huy động vàng cần được cân nhắc rất kỹ. Một hướng khả thi là thí điểm với quy mô nhỏ, đối tượng hạn chế và giám sát chặt chẽ.

Theo ông, huy động vàng trong dân là ý tưởng nhằm tận dụng nguồn lực xã hội, nhưng không phải là giải pháp có thể giải quyết ngay bài toán nguyên liệu cho ngành vàng trang sức.

Nếu không được thiết kế đồng bộ về pháp lý, kiểm soát rủi ro và minh bạch thông tin, chính sách này thậm chí có thể tạo ra những bất ổn lớn hơn cho thị trường, ông Huy nói.

Luật sư nói gì?

Luật sư Trương Thanh Đức - Giám đốc Công ty Luật ANVI, Trọng tài viên VIAC cho rằng việc kiến nghị Chính phủ ban hành quy định riêng cho hoạt động này là không cần thiết.

Theo ông, nguyên tắc pháp luật là những gì không cấm thì người dân được làm. Nếu ban hành thêm quy định để “cho phép” thì có thể đi ngược lại tinh thần tự do kinh doanh và cắt giảm điều kiện kinh doanh.

Ông cũng lưu ý điều đó có thể khiến người dân hiểu nhầm rằng việc vay vàng đã được Nhà nước “cấp phép” hoặc “bảo đảm”.

Về lãi suất, do không phải vay tiền nên hoạt động này không bị điều chỉnh bởi trần lãi suất trong Bộ luật Dân sự, các bên có thể tự thỏa thuận.

Luật sư Trương Thanh Đức đánh giá đây không phải là giải pháp tốt để huy động nguồn lực. Thay vào đó, nên khuyến khích người dân bán vàng để lấy vốn làm ăn hoặc đầu tư vào các kênh như góp vốn thành lập doanh nghiệp, mua trái phiếu, cổ phiếu, bất động sản hoặc gửi tiền ngân hàng.

Ông cho rằng như vậy vừa đưa nguồn lực vào lưu thông, sản xuất, kinh doanh, vừa hạn chế rủi ro của hình thức đi vay.

Vàng cũng là tài sản có giá trị cao, gọn nhẹ, dễ quản lý và thanh khoản tốt, nên có thể dùng hiệu quả trong các giao dịch bảo đảm như cầm cố, đặt cọc, ký cược cho các khoản vay, nghĩa vụ bảo lãnh và nhiều nghĩa vụ dân sự khác, thay vì để “nằm chết” trong két.

Bạn nghiêng về phương án nào: vay vàng trong dân hay khuyến khích người dân bán vàng? Comment bên dưới nhé!

Đang tải bình luận...