Đất được tặng cho từ năm 2016, nay chuyển sang đất ở có được hưởng chính sách giảm tiền sử dụng đất không?
Trường hợp đất được cha tặng cho, đã cấp giấy chứng nhận riêng cho con từ năm 2016, khi chuyển mục đích sang đất ở thì hạn mức đất ở được xác định như thế nào? Nếu người sử dụng đất chưa từng được áp dụng hạn mức và có giấy chứng nhận cũ của người cha, có đủ điều kiện để được giảm tiền sử dụng đất không?
Hỏi:
Năm 2006, ba của tôi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 1257,8m2 (200m2 đất ở và 1057,8m2 đất trồng cây lâu năm), nguồn gốc đất: nhà nước công nhận quyền sử dụng đất như nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất.
Đến năm 2016, ba tôi tách thửa tặng cho tôi diện tích đất là 78,7m2 đất trồng cây lâu năm và đã được cấp giấy chứng nhận mới ra tên tôi năm 2016. Nay tôi xin chuyển mục đích từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở với diện tích 78,7m2. Tôi chưa được áp dụng hạn mức đất ở lần nào. Hiện tại tôi có lựa chọn thửa đất đó để áp dụng hạn mức đất ở để áp dụng giảm tiền sử dụng đất theo Nghị Quyết 254 và Nghị định số 50.
Trường hợp chuyển mục đích nêu trên nếu bên cơ quan đăng ký đất đai cung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ của ba tôi, giấy cam kết lựa chọn thửa đất hạn mức áp dụng đất ở của tôi qua cơ quan thuế thì trường hợp của tôi có đủ điều kiện được áp dụng về miễn giảm theo Nghị quyết 254 và Nghị địn 50 không?
Trả lời:
Liên quan đến việc tính tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân khi chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn, ao, đất nông nghiệp sang đất ở theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội, ngày 08/06/2026, Bộ Tài chính cho biết, Bộ đã có Công văn số 7713/BTC-QLCS gửi Thuế các tỉnh, thành phố (tại nơi nhận có Ủy ban nhân dân, Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh, thành phố) để hướng dẫn cụ thể về phạm vi, đối tượng áp dụng của c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Điều 6 Nghị định số 50/2026/NĐ-CP về việc tính tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân khi chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn, ao, đất nông nghiệp sang đất ở.
Theo đó, các trường hợp được áp dụng quy định về mức thu tiền sử dụng đất theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 bao gồm: (i) đất vườn, ao, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở được xác định khi công nhận quyền sử dụng đất; (ii) đất có nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền đất ở nhưng người sử dụng đất tách ra để chuyển quyền sử dụng đất; (iii) đất có nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền đất ở do đơn vị đo đạc khi đo vẽ bản đồ địa chính trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 đã tự đo đạc tách thành các thửa riêng.
Như vậy, tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15, Điều 6 và khoản 2 Điều 12 Nghị định số 50/2026/NĐ-CP đã quy định về việc tính, tính lại tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân khi chuyển mục đích sử dụng đất từ 03 loại đất nêu trên (trong đó, có đất có nguồn gốc là đất vườn, ao, gắn liền đất ở nhưng người sử dụng đất tách ra để chuyển quyền sử dụng đất).
Tại Điều 48 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 291/2025/NĐ-CP) thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm trong việc: (1) Giải quyết khiếu nại, tố cáo về việc tính, thu, nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo; (2) Chỉ đạo các cơ quan chức năng của địa phương thực hiện việc tính, thu, nộp tiền thuê đất tại địa phương
Bên cạnh đó, ngày 21/7/2026, Bộ Tài chính đã có Công văn số 10657/BTC-QLCS gửi UBND các tỉnh, thành phố về việc triển khai thực hiện quy định tại Nghị định số 50/2026/NĐ-CP.
Đối với trường hợp cụ thể trên, Bộ Tài chính đề nghị công dân căn cứ hồ sơ cụ thể, liên hệ với cơ quan chức năng tại địa phương để được hướng dẫn thực hiện theo đúng quy định. Trường hợp có vướng mắc về việc xác định nguồn gốc sử dụng đất, đề nghị công dân thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Môi trường theo chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm quản lý nhà nước được giao.