Chuẩn hóa chất lượng sản phẩm OCOP
Thị trường quà biếu dịp Tết Nguyên đán đang mở ra dư địa lớn cho nông sản trong nước. Không chỉ dừng ở nhu cầu hình thức, người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến chất lượng, nguồn gốc và độ tin cậy của sản phẩm. Với sản phẩm OCOP, đây là cơ hội nhưng cũng là phép thử về mức độ chuẩn hóa.
Hiện nay, nhu cầu sử dụng giỏ quà Tết có nguồn gốc trong nước đang tăng, nhất là tại các đô thị và khối doanh nghiệp. Tuy nhiên, không phải sản phẩm OCOP nào cũng đủ điều kiện tham gia phân khúc này. Rào cản lớn nhất nằm ở sự thiếu đồng đều về chất lượng và khả năng kiểm soát sau công nhận. Báo cáo của Văn phòng Điều phối nông thôn mới Trung ương năm 2025 cho thấy, thương mại điện tử tăng trưởng khoảng 35%, cao hơn nhiều so với mức tăng 7-9% của bán lẻ truyền thống. Khoảng cách này phản ánh rõ sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng.

Ông Nguyễn Minh Tiến, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp. Ảnh: N.H
Theo ông Nguyễn Minh Tiến, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp, thị trường nội địa, đặc biệt là dịp Tết, đang trở thành không gian tiêu thụ quan trọng cho nông sản Việt Nam, thị trường trong nước, đặc biệt là dịp Tết Nguyên đán, đang mở ra dư địa rất lớn cho nông sản Việt, trong đó có các sản phẩm OCOP. Theo ông Tiến, nếu tổ chức tốt khâu truyền thông, quảng bá và bán hàng, các giỏ quà Tết sử dụng sản phẩm OCOP hoàn toàn có thể trở thành lựa chọn phổ biến của thị trường trong nước.
Bên cạnh việc mở rộng kênh phân phối, truy xuất nguồn gốc đang trở thành yêu cầu bắt buộc. Người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến xuất xứ, chứng chỉ và tính minh bạch của sản phẩm. Việc Bộ Nông nghiệp và Môi trường đẩy mạnh chuyển đổi số, cấp mã QR cho từng sản phẩm được xem là nền tảng để sản phẩm OCOP bước vào các giỏ quà Tết có giá trị cao.
Khi người tiêu dùng có thể quét mã, truy cập đầy đủ dữ liệu về vùng trồng, quy trình sản xuất, chế biến và lưu thông, niềm tin đối với sản phẩm nội địa sẽ được củng cố. Đây cũng là điều kiện để các giỏ quà Tết OCOP không chỉ cạnh tranh bằng giá, mà bằng chất lượng và giá trị gia tăng.
Thực tế, trong nhiều năm qua, công tác quảng bá và xúc tiến thương mại cho sản phẩm OCOP đã được triển khai khá sôi động. Từ các diễn đàn, hội chợ cấp vùng, cấp quốc gia như OCOPEX, hội chợ đặc sản vùng miền, đến việc đưa sản phẩm OCOP tham gia các hội chợ quốc tế tại châu Âu và châu Á. Nhiều địa phương đã chủ động xây dựng các trung tâm, điểm giới thiệu và bán sản phẩm OCOP gắn với khu đô thị, điểm du lịch. Đến nay, cả nước có hơn 670 trung tâm, điểm bán OCOP, tăng hơn 4,5 lần so với năm 2020.
Riêng tại Hà Nội, địa phương dẫn đầu cả nước về số lượng sản phẩm OCOP được công nhận, mạng lưới 115 điểm giới thiệu, quảng bá OCOP đã hình thành, phục vụ người dân Thủ đô và du khách. Không ít sản phẩm OCOP đã có mặt ổn định trong hệ thống siêu thị lớn và các sàn thương mại điện tử, từng bước tiếp cận các kênh phân phối hiện đại.

Chương trình OCOP đã giúp giá trị sản phẩm tăng từ 15-20%
Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang đánh giá, chương trình OCOP đã giúp giá trị sản phẩm tăng từ 15-20% nhờ khâu tinh chế và đóng gói chuyên nghiệp. Chương trình OCOP tại An Giang đang từng bước hướng tới nông nghiệp xanh khi nhiều chủ thể đã bắt đầu áp dụng VietGAP, GlobalGAP và kinh tế tuần hoàn, gắn kết sản phẩm với các điểm du lịch nổi tiếng như rừng tràm Trà Sư hay núi Cấm để gia tăng trải nghiệm cho du khách.
Tại đặc khu Phú Quốc (An Giang), anh Nguyễn Huỳnh Anh Khoa - đại diện Công ty TNHH nước mắm Huỳnh Khoa, cũng đang tất bật cho kế hoạch gói hàng trăm giỏ quà Tết từ 5 sản phẩm đạt chuẩn OCOP của gia đình. Với anh, việc đưa nước mắm 5 sao hay cá thu muối dùi vào giỏ quà là cách tốt nhất để quảng bá niềm tự hào địa phương. “Mọi sản phẩm dù là đặc thù hay OCOP đều được kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt, đó là lời cam kết của người nông dân với người tiêu dùng”, anh Khoa khẳng định.
Sự chuyển dịch từ giỏ quà Tết truyền thống sang giỏ quà OCOP tại An Giang không chỉ là một xu hướng tiêu dùng nhất thời mà là minh chứng cho sự thành công của tư duy "làm kinh tế nông nghiệp".
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) đến nay đã được triển khai đồng bộ tại 100% tỉnh, thành phố trên cả nước. Tính đến năm 2025, cả nước có gần 17.500 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên, tăng gấp nhiều lần so với giai đoạn đầu triển khai và vượt xa mục tiêu được Thủ tướng Chính phủ giao. Trong đó, sản phẩm 3 sao chiếm hơn 72%, sản phẩm 4 sao chiếm 27,1% và đã có 126 sản phẩm được công nhận 5 sao, được xem là những “đại diện quốc gia” của OCOP Việt Nam.

Sự lan tỏa mạnh mẽ của chương trình cả về quy mô lẫn không gian phát triển
Nhìn trên “bản đồ OCOP”, có thể thấy sự lan tỏa mạnh mẽ của chương trình cả về quy mô lẫn không gian phát triển. Đồng bằng sông Hồng hiện dẫn đầu cả nước về số lượng sản phẩm OCOP, tiếp đến là Đồng bằng sông Cửu Long, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Cơ cấu sản phẩm cũng phản ánh khá rõ lợi thế vùng miền, với nhóm thực phẩm chiếm tỷ trọng áp đảo (78,3%), tiếp theo là thủ công mỹ nghệ, đồ uống và các nhóm sản phẩm khác. OCOP đã trở thành “khung phát triển” để các địa phương khai thác tài nguyên bản địa, từ chè, dược liệu miền núi phía Bắc đến cà phê, hồ tiêu Tây Nguyên hay thủy sản, trái cây vùng hạ lưu sông Mekong.
Ở góc độ chủ thể, OCOP đã thu hút hơn 9.300 đơn vị tham gia, trong đó hợp tác xã chiếm tỷ trọng đáng kể. Đáng chú ý, việc nhiều hợp tác xã có sản phẩm OCOP đã góp phần thay đổi vai trò truyền thống của kinh tế tập thể, từ chỗ chủ yếu cung ứng dịch vụ đầu vào sang trực tiếp tham gia sản xuất, tiêu thụ, xây dựng thương hiệu và tiếp cận thị trường.
Theo bà Đặng Hương Giang, Giám đốc Sở Du lịch Hà Nội cho hay, trong tổng số 119 điểm giới thiệu sản phẩm OCOP hiện có, khoảng 35 điểm được đánh giá có tiềm năng kết nối với các mô hình du lịch, tuyến tham quan và trải nghiệm gắn với cộng đồng địa phương và du khách. Việc kết nối này không chỉ giúp đa dạng hóa hoạt động tại các điểm bán, mà còn góp phần nâng cao giá trị gia tăng thông qua trải nghiệm tham quan, mua sắm.
Trên cơ sở đó, bà Đặng Hương Giang kiến nghị Sở Công Thương trong năm 2026 tiếp tục quan tâm, chỉ đạo xây dựng và phát triển các trung tâm giới thiệu sản phẩm OCOP theo hướng đổi mới. Các trung tâm này không chỉ dừng lại ở chức năng bán hàng, mà cần được thiết kế trở thành không gian trải nghiệm, nơi giới thiệu giá trị văn hóa, quy trình sản xuất và câu chuyện của sản phẩm.
Những tác động tích cực của Chương trình OCOP đối với kinh tế nông thôn là điều không thể phủ nhận. Hơn 60% chủ thể OCOP có doanh thu tăng, giá bán sản phẩm sau khi được công nhận OCOP tăng bình quân trên 12%. OCOP cũng góp phần thúc đẩy sinh kế cho phụ nữ, đồng bào dân tộc thiểu số và các nhóm yếu thế, đồng thời tạo động lực khởi nghiệp ở nông thôn.
Tuy nhiên, bước sang giai đoạn 2026–2030, bối cảnh phát triển đã thay đổi. Yêu cầu về phát triển xanh, giảm phát thải, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng và chuyển đổi số ngày càng rõ nét. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Thanh Nam nhận định, OCOP cần một cách tiếp cận mới, vừa khắc phục những hạn chế tồn tại, vừa tạo sức sống và giá trị gia tăng cao hơn cho sản phẩm.
Thông tin với báo chí, chuyên gia nông nghiệp Hoàng Trọng Thủy cho rằng, OCOP đang đứng trước “ngưỡng cửa” của một giai đoạn phát triển mới. Khi số lượng không còn là thước đo duy nhất, xúc tiến thương mại phải trở thành công cụ chiến lược, giúp OCOP vượt ra khỏi phạm vi địa phương, tiến vào thị trường lớn hơn và bền vững hơn.