Stavian Digital Park: Dự án khu công nghệ số tập trung quy mô lớn phục vụ AI và điện toán đám mây tại TP.HCM

Với quy hoạch khoảng 300 ha, công suất điện giai đoạn đầu dự kiến đạt 300 MW vào năm 2030 và hướng tới phục vụ AI, điện toán đám mây, Stavian Digital Park là một trong những dự án hạ tầng số quy mô lớn đang được nghiên cứu tại TP.HCM. Dự án diễn ra trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu kinh tế số chiếm tối thiểu 30% GDP vào năm 2030.

Theo đó, Cushman & Wakefield được Công ty Cổ phần Hạ tầng Công nghệ cao Stavian, thành viên Tập đoàn Stavian, lựa chọn thực hiện nghiên cứu khả thi cho Stavian Digital Park (SDP) – khu công nghệ số tập trung quy mô lớn dự kiến phát triển tại TP.HCM, hướng đến phục vụ nhu cầu trung tâm dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI) và điện toán đám mây.

Nghiên cứu được tài trợ bởi Cơ quan Thương mại và Phát triển Hoa Kỳ (USTDA). Thỏa thuận được ký tại Singapore ngày 23/9/2026 trong khuôn khổ Submarine Networks World 2026. USTDA cho biết nghiên cứu sẽ xem xét cả những hạ tầng thiết yếu đi kèm dự án như nguồn điện, hệ thống làm mát và kết nối viễn thông.

APTelecom tham gia với vai trò nhà thầu phụ chuyên môn, tập trung vào kết nối viễn thông, quy hoạch hạ tầng số, chiến lược thương mại hóa và mô hình tài chính.

1

Tại lễ ký kết: Ông Đinh Đức Thắng (hàng sau, thứ 3 từ trái sang); Ông Lê Anh Dũng, Tổng Giám đốc của CTCP Hạ tầng Công nghệ cao Stavian (hàng trước, ngoài cùng bên trái); Bà Danielle Agress, Quản lý cấp cao khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của USTDA (hàng trước, ngoài cùng bên phải), ông Andrew Green, Trưởng nhóm Trung tâm Dữ liệu, khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Cushman & Wakefield (hàng sau, thứ 3 từ phải sang), và Đại sứ đặc quyền Việt Nam tại Singapore Trần Phước Anh (hàng sau, thứ 4 từ trái sang). Ảnh: Cushman & Wakefield.

Đặt cược vào nhu cầu dữ liệu và AI đang tăng nhanh

Theo định hướng ban đầu, Stavian Digital Park được quy hoạch trên diện tích khoảng 300 ha, theo mô hình khu công nghệ số tập trung có khả năng kết nối với nhiều nhà mạng, tích hợp hạ tầng điện, viễn thông dung lượng cao và các cơ sở trung tâm dữ liệu.

Giai đoạn 1 của dự án đặt mục tiêu đạt 300 MW công suất điện vào năm 2030. Quy hoạch cũng tính đến khả năng kết nối với hệ thống truyền dẫn quốc tế dung lượng cao, cùng việc tích hợp điện mặt trời tại chỗ và các nguồn năng lượng tái tạo. Đối tượng mà dự án hướng tới gồm các nhà cung cấp dịch vụ đám mây quy mô toàn cầu, doanh nghiệp công nghệ, hạ tầng số của khu vực công, các mạng phân phối nội dung (CDN), cũng như những hệ thống tính toán chuyên biệt cho AI.

Ông Thomas R. Hardy, Phó Giám đốc USTDA, cho biết: “Việt Nam là một thị trường đang phát triển về dữ liệu và hạ tầng AI trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, và mối quan hệ hợp tác này đặt nền móng cho một dự án quan trọng được xây dựng dựa trên công nghệ đáng tin cậy. Dự án này nếu được triển khai theo kế hoạch, đây có thể trở thành một trong những khuôn viên trung tâm dữ liệu quy mô lớn được quy hoạch tại Đông Nam Á".

 Cushman & Wakefield cho biết tổng công suất trung tâm dữ liệu đang xây dựng hoặc được lên kế hoạch tại châu Á – Thái Bình Dương đã đạt khoảng 26,5 GW trong nửa đầu năm 2026, tăng thêm hơn 7 GW chỉ trong sáu tháng. Đáng chú ý, đầu tư đang có xu hướng dịch chuyển khỏi những thị trường trung tâm truyền thống sang các địa điểm mới có khả năng cung cấp đất, điện và hạ tầng với chi phí cạnh tranh hơn.

Việt Nam đứng trước khoảng trống lớn về nguồn cung trung tâm dữ liệu

Việt Nam được đánh giá là một trong những thị trường hạ tầng số còn nhiều dư địa phát triển trong khu vực. Theo báo cáo Asia Pacific Data Centre Investment Landscape 2026 của Cushman & Wakefield, Việt Nam hiện thuộc nhóm thị trường trung tâm dữ liệu có mức thiếu hụt nguồn cung lớn tại châu Á – Thái Bình Dương, với khoảng 1,4 triệu người trên mỗi MW công suất trung tâm dữ liệu đang vận hành. Báo cáo cũng xếp Việt Nam ở vị trí cao trong khu vực về tỷ suất lợi nhuận trên chi phí đầu tư.

Riêng tại TP.HCM, nguồn cung đang được phát triển trong nửa đầu năm 2026 đạt khoảng 68 MW, cao hơn gấp đôi công suất đang vận hành hiện hữu của thị trường, theo Cushman & Wakefield. Những con số này cho thấy khoảng cách tương đối lớn giữa nhu cầu dữ liệu của một nền kinh tế hơn 100 triệu dân với quy mô hạ tầng hiện có.

Ở chiều ngược lại, phát triển trung tâm dữ liệu quy mô lớn cũng đặt ra hàng loạt yêu cầu về nguồn điện ổn định, năng lượng sạch, quỹ đất, khả năng làm mát, kết nối cáp quang quốc tế, an toàn dữ liệu và khung pháp lý. Đây là lý do nghiên cứu đối với Stavian Digital Park không chỉ tập trung vào xây dựng trung tâm dữ liệu mà bao gồm nhiều nhóm công việc từ nhu cầu thị trường, địa điểm, nguồn điện, viễn thông, năng lượng tái tạo đến hiệu quả tài chính, phát triển bền vững và yêu cầu pháp lý.

Kết quả nghiên cứu được kỳ vọng giúp xác định tính khả thi về kỹ thuật và thương mại, đồng thời xây dựng cấu trúc dự án đủ điều kiện tiếp cận các nguồn vốn đầu tư dài hạn.

Hạ tầng dữ liệu trở thành một mắt xích của chiến lược kinh tế số

Sự xuất hiện của những dự án hạ tầng số quy mô lớn cũng diễn ra trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy mạnh chuyển đổi số, AI và phát triển công nghiệp công nghệ số.

Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một trong những động lực quan trọng của quá trình phát triển. Đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP, đồng thời hướng tới thuộc nhóm ba quốc gia dẫn đầu Đông Nam Á về một số chỉ tiêu liên quan đến năng lực cạnh tranh số và nghiên cứu, phát triển AI.

Trong bối cảnh này, trung tâm dữ liệu không còn đơn thuần là nơi đặt máy chủ mà đang trở thành một dạng hạ tầng nền tảng của nền kinh tế số. Các mô hình AI quy mô lớn cần năng lực tính toán rất cao; dịch vụ đám mây cần hệ thống máy chủ hoạt động liên tục; thương mại điện tử, thanh toán số, dịch vụ công trực tuyến và doanh nghiệp số đều tạo ra lượng dữ liệu ngày càng lớn. Khi nhu cầu tính toán tăng, khả năng cung cấp điện, kết nối quốc tế và trung tâm dữ liệu trở thành những yếu tố có thể ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng cạnh tranh của một thị trường công nghệ.

Theo bà Lê Hoàng Lan Như Ngọc, Giám đốc cấp cao, Trưởng bộ phận Tư vấn Chiến lược Cushman & Wakefield Việt Nam, dòng vốn trung tâm dữ liệu tại châu Á – Thái Bình Dương đang dần mở rộng khỏi các thị trường đã phát triển. Những thị trường mới nổi có nhu cầu dài hạn đối với hạ tầng hyperscale và AI đang ngày càng nhận được sự quan tâm.

ong

Ông Andrew Green, Trưởng nhóm Trung tâm Dữ liệu, khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Cushman & Wakefield phát biểu tại sự kiện. Ảnh: Cushman & Wakefield.

Ông Lê Anh Dũng, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Hạ tầng Công nghệ cao Stavian cho biết thêm, SDP được định hướng theo mô hình “One Stop Shop Platform”, kết hợp hạ tầng truyền dẫn và năng lượng để phục vụ các nhà đầu tư trung tâm dữ liệu siêu quy mô, doanh nghiệp AI, điện toán đám mây cùng các đơn vị sử dụng hạ tầng số lớn.

 Đại diện Stavian Hightech Infrastructure cũng cho biết, doanh nghiệp đang đầu tư phát triển hệ thống cáp quang biển theo mô hình mở, hướng tới tăng khả năng kết nối Việt Nam với Malaysia, Singapore và Thái Lan.

Cuộc đua mới không chỉ nằm ở quy mô trung tâm dữ liệu

Việt Nam có lợi thế về quy mô dân số, tốc độ số hóa nhanh và chi phí xây dựng tương đối cạnh tranh. Tuy nhiên, các trung tâm dữ liệu thế hệ mới, đặc biệt những cơ sở phục vụ AI, đặt ra yêu cầu lớn hơn nhiều về điện năng và khả năng vận hành liên tục.

Cushman & Wakefield nhận định nguồn điện đang trở thành một trong những nút thắt quan trọng nhất đối với quá trình phát triển trung tâm dữ liệu tại châu Á – Thái Bình Dương. Cùng với điện, khả năng sẵn sàng của hạ tầng và mức độ ổn định của chính sách ngày càng có vai trò quyết định trong lựa chọn địa điểm đầu tư.

Vì vậy, việc Stavian Digital Park tích hợp năng lượng tái tạo, hạ tầng truyền dẫn quốc tế và mô hình kết nối đa nhà mạng ngay từ giai đoạn quy hoạch cho thấy các dự án trung tâm dữ liệu tại Việt Nam đang chuyển dần từ mô hình xây dựng từng cơ sở riêng lẻ sang phát triển hệ sinh thái hạ tầng số quy mô lớn. Nghiên cứu do USTDA tài trợ sẽ là bước đầu để đánh giá liệu tham vọng này có khả thi về kỹ thuật, tài chính và thương mại hay không.

Nếu dự án vượt qua các bước nghiên cứu và huy động vốn để đi vào triển khai, Stavian Digital Park có thể bổ sung đáng kể năng lực hạ tầng dữ liệu cho TP.HCM trong giai đoạn đến năm 2030, khi nhu cầu AI, điện toán đám mây và lưu trữ dữ liệu được dự báo tiếp tục tăng nhanh.