Ngân hàng tung lãi suất trên 9%/năm, cuộc đua hút tiền nóng trở lại

Một số ngân hàng đang áp dụng mức lãi suất tiền gửi thực nhận trên 9%/năm, thậm chí lên tới 9,4%/năm sau khi cộng ưu đãi. Tuy nhiên, mức lãi suất này chủ yếu đi kèm điều kiện riêng, trong khi mặt bằng huy động thông thường vẫn quanh 6-7%/năm.

Thị trường tiền gửi đang xuất hiện những mức lãi suất đáng chú ý khi một số ngân hàng đẩy lãi suất thực nhận lên trên 9%/năm thông qua chương trình cộng lãi suất, thỏa thuận theo từng nhóm khách hàng hoặc áp dụng đối với khoản tiền gửi có giá trị lớn. 

Diễn biến này cho thấy áp lực huy động vốn vẫn hiện hữu, dù thanh khoản ngắn hạn của hệ thống ngân hàng đã có thời điểm cải thiện.

Ngân hàng đua trả lãi suất trên 9%/năm, tiền gửi lớn được ưu đãi mạnh.
Ngân hàng đua trả lãi suất trên 9%/năm, tiền gửi lớn được ưu đãi mạnh.

Lãi suất gửi thực nhận vượt 9%/năm

Theo cập nhật ngày 20/8, Cake by VPBank đang áp dụng chương trình cộng thêm lãi suất tối đa 2 điểm phần trăm cho khách hàng gửi tiết kiệm lần đầu ở kỳ hạn 6-12 tháng. Sau ưu đãi, lãi suất thực nhận có thể lên tới 9,2%/năm đối với kỳ hạn 6-9 tháng và 9,4%/năm đối với kỳ hạn 10-12 tháng.

Với khách hàng gửi từ lần thứ hai, mức lãi suất thực nhận cũng lên tới 9%/năm ở kỳ hạn 6-9 tháng và 9,2%/năm ở kỳ hạn 10-12 tháng. Điều kiện để hưởng ưu đãi là khách hàng gửi tiền trên ứng dụng Cake Bank, với số tiền tối thiểu từ 5 triệu đồng.

Tuy nhiên, cần lưu ý mức trên 9%/năm nói trên không phải lãi suất niêm yết phổ thông. Biểu lãi suất cơ bản của Cake hiện ở mức 7,2%/năm cho kỳ hạn 6-9 tháng và tối đa 7,4%/năm ở kỳ hạn 10-24 tháng. Phần chênh lệch đến từ chương trình ưu đãi.

Tại nhiều ngân hàng khác, mức lãi suất 9-10%/năm cũng thường đi kèm điều kiện về số dư rất lớn. Chẳng hạn, PVcomBank từng áp dụng mức 10%/năm cho kỳ hạn 12-13 tháng với khoản tiền gửi từ 2.000 tỷ đồng; ABBank ở mức 9,65%/năm cho kỳ hạn 13 tháng với số tiền tối thiểu 1.500 tỷ đồng, trong khi MSB áp dụng mức 9%/năm với khoản tiền gửi từ 500 tỷ đồng.

Như vậy, nếu xét riêng biểu lãi suất niêm yết dành cho khách hàng phổ thông, mặt bằng vẫn thấp hơn đáng kể. Ngày 20/8, nhiều ngân hàng niêm yết lãi suất trực tuyến kỳ hạn 12 tháng trong vùng 6-7,2%/năm. Nhóm Agribank, BIDV, Vietcombank và VietinBank cùng ở mức 6,8%/năm, trong khi Bac A Bank 7,1%, LPBank 7,2%, MBV 7% và VCBNeo 7%.

Vì sao ngân hàng chấp nhận trả lãi cao?

Trao đổi với Tiền phong TS. Nguyễn Văn Lộc, Giám đốc Chương trình đào tạo Kinh doanh Thương mại, Đại học Phenikaa, nguyên nhân sâu xa khiến một số ngân hàng chấp nhận trả lãi suất cao là áp lực cân đối nguồn vốn.

Theo phân tích của ông Lộc, nhiều ngân hàng đã đẩy mạnh cho vay trung và dài hạn, trong khi nguồn vốn huy động từ dân cư chủ yếu vẫn tập trung ở các kỳ hạn ngắn như 3 tháng, 6 tháng hoặc 1 năm.

Sự lệch pha này khiến ngân hàng phải tăng sức hấp dẫn của tiền gửi để giữ chân khách hàng và có nguồn vốn ổn định hơn.

“Đó là lý do một số ngân hàng chấp nhận huy động với mức trên 9%/năm thay vì 6-7% như biểu niêm yết”, ông Lộc nói.

Đáng chú ý, theo số liệu được Ngân hàng Nhà nước cho thấy đến ngày 15/6, tăng trưởng tín dụng đạt 6,38%, trong khi huy động vốn chỉ tăng 4,3%. Khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn tạo thêm áp lực đối với một số ngân hàng trong việc tìm kiếm nguồn tiền.

Theo TS. Nguyễn Văn Lộc, khi ngân hàng phải trả lãi suất huy động trên 9%/năm, chi phí vốn sẽ tăng đáng kể. Khi đó, nhà băng đứng trước hai lựa chọn: nâng lãi suất cho vay để bảo đảm biên lợi nhuận hoặc chấp nhận thu hẹp lợi nhuận.

“Nếu lãi suất cho vay tăng, doanh nghiệp và người dân sẽ gặp khó khăn hơn trong tiếp cận vốn, từ đó ảnh hưởng đến đầu tư, tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế”, ông Lộc nhận định.

Lãi suất khó giảm sâu trong ngắn hạn

Không chỉ áp lực huy động vốn, diễn biến lãi suất những tháng cuối năm còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, trong đó có chi phí đầu vào và lạm phát.

Chia sẻ với Dân trí, chuyên gia tài chính Nguyễn Minh Tuấn CEO kiêm đồng sáng lập Cộng đồng Cố vấn tài chính Việt Nam (VWA), Tổng giám đốc AFA Capital, cho rằng khả năng giảm lãi suất còn phụ thuộc lớn vào chi phí đầu vào của nền kinh tế, đặc biệt là giá năng lượng và xăng dầu nhập khẩu. Nếu giá dầu ổn định hoặc giảm, áp lực lạm phát được kiểm soát sẽ tạo thêm dư địa cho lãi suất. Ngược lại, nếu giá hàng hóa thế giới tăng trở lại, việc giảm lãi suất sẽ khó khăn hơn.

Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng đang triển khai các gói tín dụng ưu đãi nhằm giảm chi phí vốn cho người vay. Nam A Bank công bố các chương trình giảm lãi suất từ 0,1-0,7 điểm phần trăm tùy nhóm khách hàng và mục đích vay; NCB cũng giảm 0,5 điểm phần trăm đối với nhiều gói vay.

Điều này cho thấy thị trường đang tồn tại hai xu hướng song song: ngân hàng vẫn phải cạnh tranh để thu hút nguồn vốn đầu vào, nhưng đồng thời chịu sức ép giảm chi phí vay nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và nền kinh tế.

Trong bối cảnh đó, cuộc đua lãi suất trên 9%/năm nhiều khả năng tiếp tục diễn ra ở một số phân khúc, nhưng khó trở thành mặt bằng chung của toàn hệ thống.

Với người gửi tiền, mức lãi suất 9-10%/năm có thể hấp dẫn, song cần kiểm tra kỹ điều kiện đi kèm như số tiền tối thiểu, kỳ hạn, đối tượng áp dụng, chương trình ưu đãi và phương thức nhận lãi. Quan trọng hơn, không nên chỉ nhìn vào con số lãi suất cao nhất mà bỏ qua mức lãi suất niêm yết thực tế và các điều kiện để được hưởng ưu đãi.

Ở góc độ thị trường, việc một số ngân hàng chấp nhận trả lãi suất cao phản ánh nhu cầu vốn vẫn lớn và sự phân hóa ngày càng rõ trong cuộc đua huy động. Nếu áp lực này kéo dài, chi phí vốn có thể trở thành một trong những yếu tố quan trọng quyết định khả năng giảm lãi suất cho vay trong những tháng cuối năm 2026.

Như Quỳnh