Lấy khoa học công nghệ dẫn dắt tăng trưởng: Hướng đi tất yếu
Áp lực từ biến động kinh tế toàn cầu và mục tiêu tăng trưởng hai con số đang đặt Việt Nam trước một bước ngoặt lớn về mô hình phát triển. Trong bối cảnh đó, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo được kỳ vọng trở thành động lực mới, giúp nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và vị thế của nền kinh tế.
(CL&CS)- Áp lực từ biến động kinh tế toàn cầu và mục tiêu tăng trưởng hai con số đang đặt Việt Nam trước một bước ngoặt lớn về mô hình phát triển. Trong bối cảnh đó, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo được kỳ vọng trở thành động lực mới, giúp nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và vị thế của nền kinh tế.
Trong bối cảnh kinh tế - địa chính trị toàn cầu diễn biến nhanh và khó lường, yêu cầu đổi mới mô hình phát triển đang trở thành vấn đề mang tính sống còn đối với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Những biến động về giá năng lượng, xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu không chỉ tạo ra sức ép lớn, mà còn mở ra cơ hội để các nền kinh tế tái định vị, nâng cao chất lượng tăng trưởng.
Chia sẻ tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2026, GS.TS Trần Thị Vân Hoa (Đại học Kinh tế Quốc dân) nhấn mạnh, sau 40 năm Đổi mới (1986-2026), Việt Nam đã đạt được những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội mang ý nghĩa lịch sử. Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung với mức thu nhập thấp, Việt Nam đã vươn lên trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, với quy mô GDP ước đạt 514 tỷ USD vào năm 2025. Thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người tăng mạnh, từ 110 USD năm 1986 lên 4.496 USD vào năm 2025, tiệm cận ngưỡng của nhóm quốc gia thu nhập trung bình cao.

GS.TS Trần Thị Vân Hoa - Đại học Kinh tế Quốc dân
Tuy nhiên, những thành tựu này chưa che lấp được các hạn chế mang tính cấu trúc. Theo GS.TS Trần Thị Vân Hoa, mô hình tăng trưởng hiện tại vẫn bộc lộ nhiều bất cập: chất lượng cuộc sống chưa tương xứng với tốc độ tăng trưởng, ô nhiễm môi trường gia tăng, nền kinh tế còn phụ thuộc lớn vào vốn đầu tư và lao động giá rẻ. Đáng chú ý, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vẫn đóng góp hơn 70% giá trị xuất khẩu, trong khi năng lực nội sinh của nền kinh tế còn hạn chế, tiềm ẩn nguy cơ rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”.
Trong bối cảnh đó, Đại hội XIV của Đảng đã đưa ra những định hướng mang tính bước ngoặt, đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trong giai đoạn 2026-2030, hướng tới đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ đầy tham vọng mà còn đặt ra thách thức rất lớn, nhất là khi môi trường kinh tế quốc tế tiềm ẩn nhiều bất ổn.
Nguyễn Đình Hòa (Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới) cho rằng, mô hình tăng trưởng truyền thống dựa trên thâm dụng lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên đã không còn phù hợp. Để đạt được tăng trưởng nhanh và bền vững, Việt Nam cần chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Cùng quan điểm, ông Vũ Hoàng Đạt - Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới cho rằng nhấn mạnh, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo phải được xác lập là trụ cột chiến lược trong phát triển kinh tế, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và vị thế quốc gia.
Thực tế cho thấy, tư duy phát triển này đã được thể chế hóa. Luật Khoa học - Công nghệ và Đổi mới sáng tạo được Quốc hội thông qua vào tháng 6/2025 lần đầu tiên đặt “đổi mới sáng tạo” ngang hàng với “khoa học - công nghệ”. Đồng thời, Đại hội XIV cũng đánh dấu bước chuyển quan trọng khi xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính.
Dù vậy, theo TS. Nguyễn Hồng Thu - Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới cho rằng, hệ thống đổi mới sáng tạo của Việt Nam vẫn tồn tại những điểm nghẽn đáng kể. Một trong những thách thức lớn nhất là sự “lệch pha” giữa tốc độ phát triển của công nghệ và khung khổ pháp lý. Trong khi các công nghệ đột phá như trí tuệ nhân tạo (AI), blockchain hay Internet vạn vật (IoT) phát triển với tốc độ nhanh chóng, thì cơ chế, chính sách vẫn mang nặng tư duy quản lý truyền thống, chưa theo kịp thực tiễn.
Để khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực tăng trưởng, các chuyên gia cho rằng cần có những cải cách mạnh mẽ về thể chế, đặc biệt là trong việc thu hút nguồn lực đầu tư.
PGS.TS Vũ Sỹ Cường (Học viện Tài chính) đề xuất, Việt Nam cần xây dựng các cơ chế ưu đãi đủ hấp dẫn để khuyến khích khu vực tư nhân tham gia đầu tư vào khoa học - công nghệ. Một số quốc gia đã áp dụng chính sách cho phép doanh nghiệp khấu trừ các khoản lỗ từ đầu tư vào lĩnh vực này trong vòng 5 năm nhằm giảm áp lực chi phí.

PGS.TS Vũ Sỹ Cường - Học viện Tài chính
Bên cạnh đó, cần triển khai các cơ chế đồng tài trợ nghiên cứu và phát triển (R&D), trong đó Nhà nước hỗ trợ từ 30-70% kinh phí, phần còn lại do doanh nghiệp đối ứng. Cách tiếp cận này không chỉ giúp chia sẻ rủi ro mà còn thúc đẩy hoạt động thử nghiệm và ứng dụng công nghệ mới trong doanh nghiệp.
Ngoài ra, việc Nhà nước chủ động đặt hàng hoặc mua sản phẩm đổi mới sáng tạo cũng được xem là giải pháp quan trọng nhằm tạo thị trường đầu ra, đặc biệt đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Song song với đó, cần đơn giản hóa thủ tục, hoàn thiện chính sách hỗ trợ chi tiêu cho R&D ở cả khu vực công và tư, qua đó tạo động lực lan tỏa cho toàn nền kinh tế.
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, việc chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn là lựa chọn mang tính khuyến khích, mà đã trở thành yêu cầu tất yếu. Đây chính là chìa khóa để Việt Nam bứt phá, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào giữa thế kỷ XXI.