Masan: Đà tăng trưởng từ thương hiệu đến mạng lưới bán lẻ

Masan lãi sau thuế hơn 10.000 tỷ đồng trong 9 tháng, với đóng góp từ Masan Consumer, bán lẻ và sự tăng trưởng mạnh của mảng vật liệu công nghệ cao.
Từ những sản phẩm gia vị, thực phẩm tiện lợi trong căn bếp đến mạng lưới cửa hàng phục vụ nhu cầu mua sắm hằng ngày, hệ sinh thái Masan đang ghi nhận sự cải thiện đồng thời về doanh thu và hiệu quả kinh doanh. Trong đó, Masan Consumer tăng tốc nhờ phục hồi kênh phân phối truyền thống và nâng cấp danh mục sản phẩm; WinCommerce chuyển lợi thế quy mô thành lợi nhuận rõ nét hơn.
Bên cạnh tiêu dùng - bán lẻ, đóng góp tăng mạnh của Masan High-Tech Materials tạo thêm động lực cho kết quả hợp nhất. Bức tranh 9 tháng năm 2026 vì vậy phản ánh cả sự phát triển của các hoạt động kinh doanh cốt lõi lẫn ảnh hưởng thuận lợi từ thị trường khoáng sản chiến lược.

Theo thông cáo công bố ngày 22/10, trên cơ sở số liệu tài chính quản trị chưa kiểm toán, CTCP Tập đoàn Masan (HOSE: MSN) ghi nhận doanh thu thuần quý 3/2026 đạt 36.981 tỷ đồng, tăng 74,7% so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế hợp nhất đạt 4.552 tỷ đồng, tăng 144%; phần lợi nhuận thuộc về cổ đông công ty mẹ đạt 3.671 tỷ đồng, tăng 203,7%.
Lũy kế 9 tháng, doanh thu thuần đạt 89.118 tỷ đồng, tăng 52,7% (+30.742 tỷ đồng). Lợi nhuận sau thuế hợp nhất đạt 10.325 tỷ đồng, tăng 131,1% (+5.857 tỷ đồng), vượt mức kế hoạch cơ sở năm 2026 đã điều chỉnh là 10.000 tỷ đồng. Lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông công ty mẹ đạt 8.042 tỷ đồng, tăng 205,3% (+5.408 tỷ đồng).
Một điểm đáng chú ý là lợi nhuận trước lãi vay, thuế và khấu hao (EBITDA) đạt 19.451 tỷ đồng trong 9 tháng, tăng 59,4% và vượt mức 17.274 tỷ đồng của cả năm 2025.

Trong cơ cấu tăng trưởng, hệ điều hành tiêu dùng của Masan, được doanh nghiệp gọi là Consumer Operating System (cOS), tiếp tục giữ vai trò kết nối thương hiệu, bán lẻ và dữ liệu. Theo cách phân loại của tập đoàn, nền tảng này ghi nhận doanh thu quý 3 đạt 22.656 tỷ đồng, tăng 18,7%; lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số đạt 3.640 tỷ đồng, tăng 18,1%.
Kết quả này cho thấy hoạt động tiêu dùng - bán lẻ tiếp tục tăng trưởng hai chữ số, trong khi mức tăng cao hơn của toàn tập đoàn còn được hỗ trợ đáng kể bởi mảng vật liệu công nghệ cao.

Ở mảng hàng tiêu dùng, CTCP Hàng tiêu dùng Masan (Masan Consumer, HOSE: MCH) ghi nhận doanh thu quý 3 đạt 8.743 tỷ đồng, tăng 16,3% so với cùng kỳ. Theo doanh nghiệp, đây là tốc độ tăng trưởng doanh thu theo quý cao nhất trong 3 năm, đồng thời cao hơn mức 14,2% của quý 2/2026.
Lũy kế 9 tháng, doanh thu đạt 24.380 tỷ đồng, tăng 14,6% (+3.099 tỷ đồng); lợi nhuận sau thuế hợp nhất đạt 5.222 tỷ đồng, tăng 12,1% (+562 tỷ đồng). Lợi nhuận thuộc về cổ đông công ty mẹ đạt 5.178 tỷ đồng, tăng 12,9%.
Đằng sau các con số là sự thay đổi trong cách khai thác mạng lưới phân phối. Sau giai đoạn chuyển đổi kênh bán hàng truyền thống năm 2025, Masan Consumer đang tập trung nâng năng suất tại từng điểm bán, gia tăng số mặt hàng hiện diện và bám sát nhu cầu tiêu thụ thực tế.
Trong quý 3, doanh thu kênh truyền thống tăng 17,3%, cải thiện so với mức 10,6% của quý trước. Số điểm bán đang hoạt động duy trì khoảng 460.000, trong khi số mã sản phẩm bình quân tại mỗi điểm tăng từ khoảng 5,8 lên 6,1. Khoảng 57.000 điểm bán kinh doanh trên sáu ngành hàng, so với khoảng 43.000 điểm trước đó.

Thông qua Retail Supreme, dữ liệu bán hàng tại từng điểm được sử dụng để điều phối nguồn cung và hỗ trợ đưa sản phẩm mới, sản phẩm cao cấp đến người mua. CHIN-SU, Nam Ngư và Omachi là những thương hiệu được doanh nghiệp đánh giá hưởng lợi rõ nét từ quá trình này.
Theo Masan Consumer, số ngày tồn kho tại nhà phân phối được duy trì trong khoảng 16-17 ngày. Đây là một chỉ dấu doanh nghiệp sử dụng để theo dõi sự phù hợp giữa lượng hàng đưa vào hệ thống và sức mua thực tế.
Các kênh khác cũng duy trì tăng trưởng. Doanh thu kênh hiện đại tăng 13,4%; kênh khách sạn, nhà hàng và dịch vụ ăn uống tăng 13,3%. Thương mại điện tử tăng 59,9% do xuất phát từ nền doanh thu thấp.

Cùng với phân phối, việc nâng cấp danh mục sản phẩm tiếp tục là động lực quan trọng của Masan Consumer.
Trong quý 3, ngành hàng thực phẩm tiện lợi đạt doanh thu 2.940 tỷ đồng, tăng 19,3%. Riêng danh mục cao cấp tăng gần 30%, so với mức gần 20% trong quý 2. Theo ước tính của ban điều hành dựa trên dữ liệu Nielsen đến tháng 6 và tốc độ bán hàng quý 3, thị phần theo giá trị của ngành hàng này tăng khoảng 2 điểm phần trăm từ đầu năm.
Ngành hàng gia vị ghi nhận doanh thu 2.919 tỷ đồng trong quý 3, tăng 18,8%; lũy kế 9 tháng đạt 8.380 tỷ đồng, tăng 17,7%.
Nam Ngư tiếp tục phục hồi sau quá trình chuyển đổi kênh truyền thống, với sản lượng quý 3 tăng gần 20%. Theo ước tính của doanh nghiệp, thị phần thương hiệu đã trở lại khoảng 66-67%, tiến gần mức khoảng 68-69% của năm 2024. Khi khoảng cách này thu hẹp, trọng tâm được chuyển dần sang khuyến khích người tiêu dùng lựa chọn các dòng nước mắm có giá trị cao hơn.
Với CHIN-SU, doanh thu 9 tháng tăng khoảng 15%. Các nhóm tương ớt, nước mắm cao cấp và gia vị hoàn chỉnh tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt, trong khi doanh nghiệp ưu tiên cải thiện khả năng sinh lời của ngành hàng hạt nêm.

Ở đồ uống đóng chai, doanh thu quý 3 đạt 1.446 tỷ đồng, tăng 14%. Wake-Up 247 tiếp tục là động lực sản lượng chủ lực. BUPNON ghi nhận tăng trưởng khoảng 50% sau khi tái ra mắt vào tháng 8 với công thức và bao bì mới. Tuy nhiên, Masan Consumer cho biết cần tiếp tục theo dõi tỷ lệ mua lặp lại trước khi đánh giá đóng góp dài hạn của thương hiệu.
Hoạt động kinh doanh quốc tế mang về 1.235 tỷ đồng doanh thu trong 9 tháng, tăng 15%, bổ sung dư địa phát triển bên cạnh thị trường nội địa.
Tăng trưởng vẫn đi cùng sức ép chi phí. Trong quý 3, chi phí logistics tăng từ 3,3% lên 4% doanh thu, khiến lợi nhuận trước lãi vay và thuế tăng chậm hơn doanh thu. Dù vậy, lợi thế quy mô, tiết kiệm chi phí và điều chỉnh giá bán giúp biên lợi nhuận gộp nhìn chung ổn định.
Với kết quả 9 tháng, Masan Consumer cho biết tự tin hoàn thành kế hoạch doanh thu năm 2026 từ 33.800-35.000 tỷ đồng, tương ứng tăng trưởng 11-15%.

Nếu Masan Consumer cho thấy sự cải thiện từ thương hiệu và phân phối, WinCommerce thể hiện rõ hơn khả năng chuyển tăng trưởng mạng lưới thành lợi nhuận.
Doanh thu quý 3 của WinCommerce đạt 12.775 tỷ đồng, tăng 21,2%; lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số đạt 325 tỷ đồng, tăng 85,6%. Biên lợi nhuận ròng đạt 2,5%, cải thiện so với mức 1,2% trong quý 2.
Lũy kế 9 tháng, doanh thu đạt 35.767 tỷ đồng, tăng 25,7%; lợi nhuận sau thuế đạt 670 tỷ đồng, tăng 175,4%.
Trong quý 3, chuỗi mở mới ròng 345 cửa hàng, nâng tổng mạng lưới lên 5.486 điểm bán. Tính từ đầu năm, số cửa hàng mở mới ròng đạt 894, hướng tới mục tiêu 1.000-1.500 cửa hàng trong năm 2026.

Song song với mở rộng, doanh thu trên cùng cửa hàng tăng 7% trong quý 3 và 11,4% trong 9 tháng. Theo doanh nghiệp, khu vực nông thôn tiếp tục là động lực phát triển chủ lực, với biên EBITDA cao nhất hệ thống và thời gian hoàn vốn dưới 3 năm. Lợi nhuận tăng cùng việc quản lý dòng tiền giúp chuỗi tự tài trợ hoạt động mở rộng mà không cần huy động vốn bên ngoài.
Ở mảng thịt, Masan MEATLife đạt doanh thu 9 tháng 7.808 tỷ đồng, tăng 14,9%. Thịt chế biến ghi nhận doanh thu quý 3 tăng khoảng 34%, đóng góp khoảng 40% tổng doanh thu và có biên lợi nhuận gộp cao gấp khoảng hai lần thịt tươi.
Tuy nhiên, việc tăng đầu tư marketing và hỗ trợ bán hàng khiến lợi nhuận sau thuế quý 3 của Masan MEATLife giảm 3,8%, còn 98 tỷ đồng. Lũy kế 9 tháng, lợi nhuận đạt 436 tỷ đồng, giảm 6,5% so với cùng kỳ nhưng vẫn vượt mức cao nhất trong kế hoạch năm là 300 tỷ đồng.
Phúc Long Heritage cũng mở rộng có chọn lọc. Doanh thu 9 tháng đạt 1.708 tỷ đồng, tăng 24,3%; lợi nhuận sau thuế đạt 207 tỷ đồng, tăng 46%. Đến cuối quý 3, chuỗi có 239 cửa hàng độc lập, không bao gồm các kiosk tại WinCommerce.

Masan High-Tech Materials là động lực nổi bật của kết quả hợp nhất khi doanh thu 9 tháng đạt 25.687 tỷ đồng, tăng 408,9%. Lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số đạt 4.350 tỷ đồng, chuyển biến mạnh so với khoản lỗ 211 tỷ đồng cùng kỳ.
Riêng quý 3, doanh thu đạt 14.557 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế đạt 2.148 tỷ đồng. Kết quả được hỗ trợ bởi giá vonfram ở mức cao, sản lượng gia tăng và tối ưu vận hành. Sản lượng vonfram tính theo hàm lượng thực tế trong sản phẩm đạt 1.786 tấn, tăng 55%.
Ở cấp tập đoàn, tiền và các khoản tương đương tiền cuối quý 3 đạt 21.197 tỷ đồng, tăng 20,9% so với cuối năm 2025. Tổng dư nợ vay hợp nhất đạt 69.656 tỷ đồng, tăng 7,4%.

Tỷ lệ nợ vay ròng trên EBITDA 12 tháng gần nhất giảm từ 2,7 lần cuối năm 2025 xuống 2 lần. Nếu tính khoản thanh toán mua thêm cổ phần Masan Consumer trong tháng 10, tỷ lệ này khoảng 2,4 lần; tập đoàn đặt mục tiêu đưa về khoảng 2,3 lần cuối năm.
Theo thông cáo của Masan Consumer, trong tháng 10, Masan Group đăng ký mua 73 triệu cổ phiếu MCH, dự kiến nâng tỷ lệ sở hữu từ khoảng 69,4% lên 74,9%. Đây là bước đi gắn với định hướng tăng sở hữu dài hạn tại nền tảng hàng tiêu dùng, đồng thời đơn giản hóa cơ cấu sở hữu của tập đoàn.
Masan Consumer đã tạm ứng cổ tức tiền mặt đợt 1 năm 2026 ở mức 2.000 đồng/cổ phiếu trong quý 3, tương ứng khoảng 2.600 tỷ đồng. Mức cổ tức tối đa được đại hội đồng cổ đông phê duyệt cho năm 2026 là 5.000 đồng/cổ phiếu.
Với Masan, giai đoạn tiếp theo được định hướng xoay quanh khả năng tự tạo vốn của các công ty thành viên, thu hút đối tác chiến lược và giảm nợ vay tại công ty mẹ. Nền tảng cho hướng đi này là hiệu quả kinh doanh tại từng thương hiệu, từng cửa hàng, cùng khả năng chuyển lợi nhuận thành dòng tiền để tiếp tục đầu tư và chi trả cho cổ đông.
Ngày xuất bản: 23/10/2026. Bài: Nguyễn Như