Làm sạch mã số thuế: Kiến nghị bỏ xử phạt doanh nghiệp không hoạt động, không doanh thu
Doanh nghiệp đã ngừng hoạt động, không có doanh thu nhưng vẫn phát sinh lệ phí môn bài, tiền chậm nộp và tiền phạt do không kê khai thuế trong nhiều năm đang tạo ra những bất cập khi làm sạch mã số thuế. Chủ tịch VTCA Nguyễn Thị Cúc đề nghị chấm dứt xử phạt, đồng thời phân loại doanh nghiệp để xử lý theo từng trường hợp.
Bất cập khi doanh nghiệp không hoạt động vẫn phát sinh tiền phạt
Đánh giá về chiến dịch làm sạch mã số thuế, bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội Tư vấn Thuế Việt Nam nhấn mạnh đây là việc rất quan trọng, bởi thể hiện sự minh bạch và giúp đánh giá thực trạng doanh nghiệp đang hoạt động hoặc không hoạt động, tránh tình trạng tiếp tục gian lận về thuế.
Để xử lý và chấm dứt tình trạng này, theo bà Cúc, cần có những quy định rõ ràng và đổi mới. Bởi thực tế đang phát sinh nhiều bất cập trong cơ chế xử phạt đối với các doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhưng chưa làm thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế.
Bà Cúc lấy ví dụ, doanh nghiệp không hoạt động, đóng cửa đến 15 - 20 năm nhưng vẫn phải thông báo nộp lệ phí môn bài 2 triệu đồng/năm, sau đó tính tiền chậm nộp 0,03% mỗi ngày. Khoản tiền này nếu kéo dài 10 - 15 năm sẽ trở nên rất lớn.

“Người ta không hoạt động thì làm gì có thuế mà lại phạt chậm nộp tờ khai thuế GTGT, chậm nộp tờ khai thuế TNDN”, bà Cúc nói và cho biết dù hiện nay quy định đã thay đổi, mức phạt ít nhất là 11,5 triệu đồng đối với một loại tờ khai; nếu không thay đổi thì còn phạt rất nhiều. Theo bà Cúc, những biện pháp xử lý này chỉ nên áp dụng đối với những doanh nghiệp đang hoạt động.
Để tháo gỡ các bất cập trên, bà Cúc đề nghị đối với doanh nghiệp không có doanh thu, không hoạt động thì cần thay đổi theo hướng chấm dứt việc xử phạt. Đối với những hồ sơ đang làm mà đã có truy thu lệ phí môn bài, xử phạt tiền chậm nộp, tiền phạt không kê khai thuế thì các khoản này cần được loại trừ khỏi hồ sơ làm sạch mã số thuế. Doanh nghiệp chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính do không làm thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế, chứ không phải nộp tất cả các khoản tiền thuế phát sinh.
Bên cạnh đó, cần phân loại cụ thể từng đối tượng. Theo bà Cúc, hiện nay nếu có đăng ký thuế trong thời gian 10 năm thì cơ quan thuế sẽ không truy thu thuế, không truy hoàn. Vì vậy, cũng cần phân loại đối tượng nào nợ thuế, các khoản nợ nào đã rõ và đến thời điểm nào thì không thu nữa. Mức xử phạt đối với những trường hợp không cố tình cũng cần khác với trường hợp gian lận.
“Còn đối với những doanh nghiệp gian lận thì sẽ khoanh vùng lại và xử lý khác”, bà Cúc nói.
Theo đó, có thể cho chấm dứt hiệu lực mã số thuế, rồi chuyển sang khôi phục mã số thuế để hoạt động. Nếu chưa rõ và chưa chứng minh được thì cho nợ tiền thuế đó và ghi số tiền thuế nợ vào doanh nghiệp mới được khôi phục với mã số thuế mới để chấm dứt tình trạng này.
Một kiến nghị khác được bà Cúc đưa ra là cần có quy định rõ đối với từng loại hồ sơ. Hồ sơ loại 1, 2, 3, 4 cần những gì, khi người nộp thuế cung cấp đủ hồ sơ theo quy trình thì các cơ quan thuế trên toàn quốc, không phân biệt ở tuyến nào, cũng phải có cách xử lý thống nhất.
Đồng thời, cần quy định rõ thời gian xử lý, sau khi nhận hồ sơ bao nhiêu ngày thì trả kết quả, không để người nộp thuế phải phiền hà.
Bà Cúc cho biết, Cục Thuế cũng đã có văn bản chấn chỉnh tình trạng cơ quan thuế gây khó khăn. Theo bà, khi thủ tục đã đầy đủ và quy định rõ ràng thì sẽ hạn chế tình trạng này. Đây cũng là một biện pháp để bảo vệ cán bộ thuế.
Ngoài ra, bà Cúc mong muốn các đại lý thuế cùng vào cuộc để hỗ trợ, có thể giảm một phần phí hoặc có phần miễn phí để cùng cơ quan thuế thực hiện chiến dịch làm sạch mã số thuế.
Xử lý từ gốc tình trạng doanh nghiệp bỏ địa chỉ kinh doanh
Đồng tán thành với các ý kiến của bà Cúc, ông Nguyễn Văn Được, Tổng giám đốc Công ty TNHH Kế toán và Tư vấn Thuế Trọng Tín cho rằng việc làm sạch mã số thuế rất quan trọng và đáng lẽ cần được thực hiện từ lâu.
Theo ông Được, khi làm sạch mã số thuế sẽ tiết kiệm thời gian, chi phí xã hội, giúp công tác quản lý thuế thuận lợi hơn, đồng thời tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp có môi trường kinh doanh lành mạnh hơn. Việc này cũng giúp cung cấp thông tin chính xác, kịp thời và đầy đủ về tình trạng doanh nghiệp cho các cơ quan, bộ, ngành, cơ quan thống kê để phục vụ việc ra quyết sách vĩ mô.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Được cho rằng các chính sách pháp luật hiện có những rào cản đối với tổ chức, cá nhân trước đó đã vi phạm, như bỏ địa chỉ kinh doanh, tạm ngừng hoặc giải thể nhưng chưa hoàn thành thủ tục.
Ông dẫn chứng, doanh nghiệp trước đây ông điều hành ở trạng thái 06, tức bỏ địa chỉ kinh doanh. Khi ông thành lập một doanh nghiệp mới, hệ thống có thể ngăn chặn không cho thành lập doanh nghiệp mới; hoặc nếu cho thành lập thì việc sử dụng hóa đơn và các thủ tục hành chính của doanh nghiệp mới do ông làm đại diện có thể bị hạn chế, kiểm soát chặt chẽ.
“Nếu chúng ta không làm sạch mã số thuế thì rõ ràng mỗi khi một doanh nghiệp mới của chúng tôi ra đời, chúng tôi lại phải liên đới với doanh nghiệp cũ trước đây và lại phải đi giải trình”, ông Được nói.
Theo ông, nhà nước phải cử nhân sự để quản lý, giám sát, còn doanh nghiệp cũng phải mất thời gian và chi phí để thực hiện. Vì vậy, làm sạch mã số thuế không chỉ có ý nghĩa đối với công tác quản lý mà còn tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và cá nhân.
Từ thực tế này, ông Được cho rằng cần thiết kế cơ chế xử lý ngay khi doanh nghiệp bỏ địa chỉ kinh doanh, thay vì để kéo dài rồi mới hậu kiểm.
Theo ông, trước đây chưa có cơ chế để xử lý ngay khi doanh nghiệp bỏ địa chỉ kinh doanh mà chủ yếu thực hiện hậu kiểm, tức khi doanh nghiệp thành lập doanh nghiệp mới hoặc thực hiện công việc khác mới kiểm tra. Cách làm này kéo dài thời gian và khiến tính răn đe cũng như việc thực hiện của người nộp thuế chưa phù hợp.
Do đó, cần thiết kế chế tài để khi doanh nghiệp bỏ địa chỉ kinh doanh thì có cơ chế xử lý ngay tại thời điểm đó, không để 5–10 năm sau mới xử lý. Khi xử lý ngay, vấn đề sẽ được giải quyết dứt điểm tại thời điểm phát sinh.
Bên cạnh đó, theo ông Được, trong các biện pháp cưỡng chế nợ thuế, sau khi các biện pháp như trích tài khoản tiền gửi ngân hàng, đình chỉ sử dụng hóa đơn không hiệu quả, có thể khóa mã số thuế, thậm chí yêu cầu cơ quan đăng ký kinh doanh thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Đối với các trường hợp này cũng cần có cơ chế xử lý, tránh tình trạng doanh nghiệp bị đóng mã số thuế nhưng tồn đọng quá lâu.
Ông Được cho rằng ngành thuế cần có cơ chế giải quyết linh hoạt, thuận lợi nhất cho người nộp thuế trong mọi trường hợp. Về dài hạn, cần vừa hỗ trợ người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế, vừa có tính răn đe để người nộp thuế có trách nhiệm hơn khi thành lập doanh nghiệp.
Cơ chế hậu kiểm vẫn được thực hiện, nhưng theo ông Được, cần xử lý ngay từ gốc vấn đề để việc quản lý và thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp thuận lợi hơn.