Gỡ nút thắt thuế VAT cho doanh nghiệp xuất khẩu và hạ tầng số

Góp ý Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 181/2025/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, VCCI đề xuất cần quy định chuyển tiếp áp dụng thuế suất 0%, mở rộng số lượng mã hàng được hưởng thuế suất 0% khi bán vào khu phi thuế quan và áp dụng thuế suất 0% cho dịch vụ số...

Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa có Văn bản gửi Bộ Tài chính tham gia ý kiến đối với Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 359/2025/NĐ-CP và Nghị định 144/2026/NĐ-CP). 

Cần quy định chuyển tiếp áp dụng thuế suất 0% từ ngày 20/6/2026 

Khoản 1 Điều 2 Dự thảo hiện quy định “Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành” và chưa có điều khoản chuyển tiếp. Trong khi đó, Nghị định số 144/2026/NĐ-CP đã có hiệu lực từ ngày 20/6/2026, dẫn đến thực tế từ ngày 20/6/2026 đến trước ngày Nghị định mới có hiệu lực, doanh nghiệp đã phát sinh nhiều hóa đơn, tờ khai hải quan và hàng tồn kho thuộc Phụ lục II. Đáng chú ý, ghi chú tại Phụ lục yêu cầu tra cứu mã hàng “có hiệu lực tại thời điểm phát sinh tờ khai”, nghĩa là hàng hóa đã khai báo trước đó vẫn phải chịu quy định cũ.

6A920733-0EF1-4758-B032-7895B97706FC_1_201_a

VCCI cảnh báo, việc thiếu quy định chuyển tiếp sẽ khiến các cơ quan thuế và hải quan địa phương áp dụng không thống nhất đối với việc điều chỉnh hóa đơn, khai bổ sung, tính tiền chậm nộp hay xử phạt vi phạm. Điều này làm tăng chi phí tuân thủ và rủi ro tranh chấp.

Do việc áp dụng thuế suất 0% là chính sách có lợi cho người nộp thuế, phù hợp với mục tiêu tháo gỡ khó khăn của Chính phủ, VCCI đề xuất bổ sung khoản 2 Điều 2 Dự thảo với các nội dung:

Cho phép áp dụng thuế suất 0% đối với hàng hóa thuộc các mã hàng được đưa ra khỏi Phụ lục II có thời điểm xác định thuế VAT từ ngày 20/6/2026 đến trước ngày Nghị định mới có hiệu lực (nếu đáp ứng điều kiện tại Điều 17, 18 Nghị định 181/2025/NĐ-CP). Doanh nghiệp được điều chỉnh hóa đơn, khai bổ sung và không bị xử phạt vi phạm hành chính, không bị tính tiền chậm nộp đối với số thuế chênh lệch phát sinh.

Giao Bộ Tài chính hướng dẫn thủ tục điều chỉnh và hoàn thuế trong vòng 15 ngày kể từ khi Nghị định có hiệu lực.

Bỏ "gánh nặng" rủi ro cho doanh nghiệp bán hàng vào khu phi thuế quan

Dự thảo sửa đổi Phụ lục II mở rộng số lượng mã hàng được hưởng thuế suất 0% khi bán vào khu phi thuế quan. Tuy nhiên, quy định hiện hành gánh điều kiện hàng hóa phải “được tiêu dùng trong khu phi thuế quan phục vụ trực tiếp cho sản xuất xuất khẩu” (điểm b khoản 1 Điều 17), nhưng lại chưa làm rõ bên bán phải chứng minh điều kiện này bằng tài liệu nào.

Thực tế, bên bán hoàn toàn không kiểm soát được hành vi của bên mua. Đã có trường hợp doanh nghiệp chế xuất tự ý bán lại một phần hàng hóa vào thị trường nội địa, khiến bên bán đứng trước nguy cơ bị truy thu thuế và xử phạt. Rủi ro này làm nhiều doanh nghiệp e ngại ký hợp đồng dài hạn.

Để khắc phục, VCCI đề xuất bổ sung vào khoản 1 Điều 18 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP quy định: Bên bán phải có văn bản cam kết của tổ chức trong khu phi thuế quan về việc sử dụng hàng hóa đúng mục đích sản xuất xuất khẩu. Tổ chức trong khu phi thuế quan phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về nội dung cam kết và nghĩa vụ thuế nếu sử dụng sai mục đích. Cơ sở kinh doanh bán hàng khi đã có đủ hồ sơ theo quy định không bị truy thu thuế hay xử phạt do lỗi từ phía bên mua.

Áp dụng thuế suất 0% cho dịch vụ số

Ở lĩnh vực dịch vụ số, VCCI đề nghị áp dụng thuế suất 0% cho dịch vụ trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây và sản phẩm, dịch vụ trí tuệ nhân tạo cung cấp cho khách hàng nước ngoài.

Theo VCCI, dịch vụ trung tâm dữ liệu và điện toán đám mây được xác định là dịch vụ viễn thông, nên thuộc trường hợp không áp dụng thuế suất 0% theo Nghị định số 181/2025/NĐ-CP, dù có bản chất dịch vụ xuất khẩu.

Khách hàng nước ngoài thông thường không khấu trừ được thuế giá trị gia tăng của Việt Nam, theo VCCI điều này khiến khoản thuế 10% trở thành chi phí, đẩy giá dịch vụ cao hơn khoảng 10% so với nhà cung cấp trong khu vực,

Trong khi đó, với sản phẩm, dịch vụ trí tuệ nhân tạo, khó khăn nằm ở hồ sơ chứng minh tiêu dùng ngoài Việt Nam. Các dịch vụ suy luận, huấn luyện và tinh chỉnh mô hình cung cấp cho bên nước ngoài chưa có quy định cụ thể về hồ sơ này, trong khi sản phẩm nội dung thông tin số có cùng phương thức cung cấp qua mạng đã được quy định.

VCCI nhận định: “Do thiếu căn cứ thống nhất, doanh nghiệp và cơ quan thuế khó xác định điều kiện áp dụng, dẫn đến nguy cơ mỗi nơi áp dụng một cách khác nhau".

Ảnh hưởng của chính sách thuế còn thể hiện ở quyết định đặt hạ tầng tính toán giai đoạn 2027-2030. Theo phản ánh của doanh nghiệp trong văn bản góp ý, nếu tự chịu thuế 10% để giữ giá, lợi nhuận trước thuế của dự án ước giảm khoảng 40–45%, đủ để thay đổi quyết định địa điểm đầu tư.

Để tháo gỡ, VCCI đề nghị sửa quy định loại trừ, cho phép dịch vụ trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây cung cấp cho khách hàng nước ngoài, tiêu dùng ngoài Việt Nam được hưởng thuế suất 0%. Đề xuất không mở rộng sang các dịch vụ viễn thông khác. Với sản phẩm, dịch vụ trí tuệ nhân tạo, VCCI đề nghị bổ sung hồ sơ chứng minh tiêu dùng ngoài Việt Nam, gồm thông tin về địa chỉ thanh toán, địa chỉ trụ sở, địa chỉ IP hoặc thông tin tương tự của khách hàng.

Qua các kiến nghị, VCCI mong muốn việc áp dụng thuế suất 0% được thông suốt hơn, từ xử lý giao dịch chuyển tiếp, xác định trách nhiệm của bên mua, bên bán đến hoàn thiện hồ sơ cho dịch vụ số. Những điều chỉnh này hướng tới giảm vướng mắc khi thực thi, giúp chính sách hỗ trợ dòng tiền và nâng sức cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu phát huy hiệu quả.