Giai đoạn 2026 - 2030, Quốc hội muốn thu ngân sách khoảng 16,4 triệu tỷ đồng
Nghị quyết về kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia; kế hoạch vay, trả nợ công giai đoạn 2026 - 2030 vừa được Quốc hội thông qua đặt mục tiêu tổng thu ngân sách khoảng 16,4 triệu tỷ đồng, tăng 1,7 lần, bình quân đạt 18% GDP. Chi ngân sách nhà nước khoảng 21,2 triệu tỷ đồng, gấp 1,9 lần.
Sáng 24/4, Quốc hội thông qua Nghị quyết về kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2026 - 2030; kế hoạch vay, trả nợ công giai đoạn 2026 - 2030.
Mục tiêu tổng quát của Nghị quyết nhằm xây dựng nền tài chính quốc gia hiệu quả, minh bạch, bền vững. Thực hiện chính sách tài khóa chủ động, hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm, phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ; huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả nguồn lực trong và ngoài nước để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững; tiếp tục cơ cấu lại ngân sách nhà nước, bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương và chủ động của ngân sách địa phương; tập trung nguồn lực thực hiện các đột phá chiến lược gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, bảo đảm quốc phòng, an ninh, an sinh xã hội; triệt để tiết kiệm, chống lãng phí, tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính; duy trì an ninh, an toàn nền tài chính quốc gia, ổn định kinh tế vĩ mô.

Về mục tiêu cụ thể, tổng thu ngân sách cho giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 16,4 triệu tỷ đồng, tăng 1,7 lần, bình quân đạt 18% GDP. Chi ngân sách nhà nước khoảng 21,2 triệu tỷ đồng, gấp 1,9 lần. Tỷ trọng đầu tư phát triển khoảng 40%. Tỷ trọng chi thường xuyên khoảng 51- 52% tổng chi ngân sách nhà nước. Bội chi ngân sách nhà nước khoảng 5% GDP. Trần nợ công hàng năm không quá 60% GDP, ngưỡng cảnh báo là 50% GDP. Trần nợ Chính phủ hàng năm không quá 50% GDP, ngưỡng cảnh báo là 45% GDP. Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ không quá 25% và nghĩa vụ trả nợ lãi trực tiếp của Chính phủ không quá 10% tổng thu ngân sách nhà nước.
Quốc hội yêu cầu về thu ngân sách nhà nước: Tập trung hoàn thiện thể chế theo nguyên tắc phân phối điều tiết hợp lý các nguồn lực tài chính nhằm thực hiện mục tiêu bứt phá tăng trưởng, làm nền tảng tăng thu bền vững, nuôi dưỡng nguồn thu. Tăng cường chống thất thu, chuyển giá, trốn thuế. Tăng cường quản lý nợ thuế, phấn đấu giảm tỷ lệ nợ đọng thuế, phí dưới 5% tổng số thu. Hiện đại hóa quy trình công tác quản lý thu, giảm tối đa chi phí tuân thủ và chi phí hành thu. Thiết lập nền tảng tài chính hiện đại, tài chính số, nâng cao chất lượng dự báo.
Về chi ngân sách nhà nước: Ưu tiên chi đầu tư phát triển, nhiệm vụ quan trọng về quốc phòng, an ninh, các nghị quyết của Đảng, Bộ Chính trị về đột phá chiến lược và một số ngành lĩnh vực then chốt, trong đó bố trí lĩnh vực khoa học công nghệ đổi mới sáng tạo tối thiểu 3%, lĩnh vực giáo dục đào tạo 20% tổng chi ngân sách nhà nước. Điều chỉnh chuẩn nghèo, tiền lương, an sinh xã hội và chương trình mục tiêu quốc gia. Tăng chi dự trữ quốc gia, đặc biệt cho các mặt hàng dự trữ chiến lược như xăng dầu...
Tăng chi dự phòng ngân sách nhà nước và bố trí dự phòng đảm bảo an ninh, an toàn tài chính quốc gia. Tập trung triển khai các giải pháp nâng cao hiệu quả phân bổ, quản lý sử dụng ngân sách nhà nước gắn với phân cấp, phân quyền thực chất, trách nhiệm của người đứng đầu. Bố trí dự toán hàng năm trên cơ sở tiến độ thực hiện, nguồn lực triển khai, khả năng hấp thụ vốn gắn với các yêu cầu về kết quả thực hiện, đảm bảo không dàn trải, không trùng lắp, triệt để tiết kiệm chi thường xuyên, đặc biệt là chi hội nghị, hội thảo, đi công tác trong và ngoài nước.
Về bội chi ngân sách và nợ công: Các nhiệm vụ giải pháp tập trung vào việc đảm bảo huy động gắn với sử dụng nguồn lực hiệu quả, trong đó: Xây dựng mức bội chi ngân sách hàng năm theo nhu cầu, tiến độ giải ngân đầu tư công, không sử dụng bội chi cho chi thường xuyên. Đánh giá hàng năm và giữa nhiệm kỳ, kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền điều chỉnh các chỉ tiêu khi có biến động lớn phù hợp với thực tế. Quản lý nợ công thống nhất, chủ động, an toàn, bền vững, điều hành các chỉ tiêu rủi ro danh mục nợ Chính phủ theo thông lệ quốc tế. Giao Chính phủ điều hành các hạn mức bảo lãnh của Chính phủ trong trường hợp cần thiết và không làm vượt trần, ngưỡng các chỉ tiêu an toàn nợ công và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Đối với vay vốn ODA, vay nước ngoài: Tập trung vào các dự án hạ tầng then chốt, các lĩnh vực có khả năng lan tỏa cao, kiên quyết cắt giảm các dự án chậm triển khai, không hiệu quả, đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và đơn giản hóa thủ tục hành chính.