Giai đoạn 2026 - 2030: Phát triển các mô hình kinh tế mới, thị trường trong nước là điểm tựa cho tăng trưởng
Chính phủ cho biết, giai đoạn 2026 - 2030 sẽ chuyển đổi mô hình tăng trưởng; đẩy mạnh cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực; phát triển các khu vực doanh nghiệp, các mô hình kinh tế mới. Phát triển thị trường trong nước trở thành điểm tựa quan trọng cho tăng trưởng; mở rộng, đa dạng hóa thị trường…
Chuyển mạnh từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”
Chiều 9/4, Quốc hội nghe Phó thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng trình bày Tờ trình về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030.
Theo Phó thủ tướng, giai đoạn 2026-2030, tình hình thế giới tiếp tục biến động rất nhanh, mạnh, khó lường… Để hiện thực hóa mục tiêu, tầm nhìn phát triển đến năm 2030 và năm 2045, vượt qua bẫy thu nhập trung bình, Chính phủ xác định mục tiêu phát triển nhanh, bền vững đất nước, phấn đấu tăng trưởng GDP năm 2026 và bình quân 05 năm 2026-2030 từ 10% trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt 8.500 USD, gấp 1,7 lần năm 2025; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; nâng cao mọi mặt đời sống của nhân dân, để nhân dân được thụ hưởng mọi thành quả của phát triển.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá toàn diện những thuận lợi, khó khăn và với quyết tâm cao, Chính phủ trình Quốc hội 5 quan điểm chỉ đạo, điều hành, 59 chỉ tiêu chủ yếu, 11 nhóm giải pháp trọng tâm trong giai đoạn 2026-2030 và 92 nhiệm vụ cần thực hiện ngay trong năm 2026.
Cụ thể, tập trung hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ, hiện đại, cạnh tranh để tạo đột phá tăng trưởng, xác lập mô hình tăng trưởng mới; chuyển mạnh phương thức quản lý nhà nước từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”. Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật. Hoàn thiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật; tháo gỡ căn bản các rào cản, điểm nghẽn, hoàn thiện thể chế, pháp luật để phát triển nền kinh tế số, đầu tư kinh doanh. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phấn đấu môi trường đầu tư của Việt Nam vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 30 nước hàng đầu thế giới vào năm 2028. Tăng cường hơn nữa phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí.
Chuyển đổi mô hình tăng trưởng; đẩy mạnh cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực; phát triển các khu vực doanh nghiệp, các mô hình kinh tế mới. Thúc đẩy và làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống, phát triển mạnh các mô hình kinh tế mới, khai thác không gian phát triển mới. Hiện đại hoá nền công nghiệp quốc gia vững mạnh. Tạo đột phá phát triển các thành phần kinh tế gắn với triển khai hiệu quả các Nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị. Phát triển thị trường trong nước trở thành điểm tựa quan trọng cho tăng trưởng; mở rộng, đa dạng hóa thị trường, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng chiến lược của các nước lớn.
Thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn, chống khủng hoảng kinh tế; khơi thông và đa dạng hoá các chuỗi cung ứng, kênh dẫn vốn. Phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất, hiệu quả, linh hoạt giữa chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác. Phát triển thị trường vốn thành kênh huy động vốn dài hạn cho nền kinh tế. Hiện đại hoá hệ thống các tổ chức tín dụng, đẩy mạnh xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, sở hữu chéo, nâng cao chất lượng, hiệu quả tín dụng, giữ vững ổn định, an toàn hệ thống.
Tập trung phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Hoàn thiện thể chế, pháp luật, tháo gỡ dứt điểm các nút thắt, rào cản trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo gắn với kết quả đầu ra và chấp nhận rủi ro có kiểm soát. Ưu tiên tiếp thu, chuyển giao, ứng dụng, làm chủ các công nghệ nền tảng, công nghệ chiến lược, công nghệ số… Chú trọng nghiên cứu cơ bản, nhất là những lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu, tiềm năng và lợi thế. Đến năm 2030, tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP.
Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; thúc đẩy đô thị hoá và phát triển đô thị, liên kết vùng. Tập trung đầu tư các tuyến đường bộ cao tốc theo quy hoạch, các cảng biển cửa ngõ kết hợp trung chuyển quốc tế, các cảng hàng không lớn, tuyến đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, các tuyến đường sắt kết nối quốc tế, đường sắt đô thị; đến năm 2030 đưa vào sử dụng trên 5.000 km đường bộ cao tốc. Phát triển hạ tầng năng lượng đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế cao gắn với đảm bảo an ninh năng lượng. Ưu tiên đầu tư, hiện đại hóa hạ tầng số; phát triển đồng bộ các cơ sở dữ liệu quốc gia, các cơ sở dữ liệu lớn, trung tâm dữ liệu lớn. Quyết liệt xử lý các dự án tồn đọng.
“Thống nhất tư duy, nhận thức, khát vọng và hành động; đổi mới quản trị thực thi, xác định tăng trưởng “2 con số” là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, phải cụ thể hoá trong các chương trình, kế hoạch công tác hằng năm; kiểm tra, giám sát, đánh giá dựa trên tiêu chí kết quả thực hiện. Tăng cường thông tin, tuyên truyền, củng cố niềm tin, khát vọng phát triển của toàn xã hội”, Phó thủ tướng nêu rõ.

Đề nghị làm rõ dư địa, giới hạn của chính sách tài khóa, tiền tệ
Báo cáo thẩm tra về dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2026 - 2030, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi lưu ý, khó khăn, thách thức trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030 là rất lớn, gay gắt hơn giai đoạn trước, điều này đòi hỏi việc xây dựng và triển khai Kế hoạch phát triển KTXH 5 năm 2026 - 2030 phải được đặt trong bối cảnh mới, với yêu cầu cao hơn về chất lượng tăng trưởng, tính tự chủ và khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Ủy ban đề nghị Chính phủ hoàn thiện thể chế phải thực sự là đột phá chiến lược, không chỉ dừng ở sửa đổi văn bản mà cần nâng cao chất lượng, tính đồng bộ và hiệu lực thực thi của hệ thống pháp luật. Cần rà soát tổng thể, xử lý triệt để tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu nhất quán giữa các luật và văn bản dưới luật; đồng thời gắn chặt công tác xây dựng pháp luật với tổ chức thi hành, lấy kết quả thực thi làm thước đo chất lượng thể chế.
Việc đồng thời theo đuổi tăng trưởng cao và giữ vững ổn định vĩ mô là thách thức lớn, đòi hỏi điều hành chính sách thận trọng, linh hoạt và kỷ luật. Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị làm rõ dư địa, giới hạn của chính sách tài khóa, tiền tệ; bảo đảm phối hợp nhất quán, tránh “giật cục”. Đồng thời, tăng cường kỷ luật ngân sách, cơ cấu lại chi theo hướng ưu tiên đầu tư; chủ động bảo đảm an ninh năng lượng và kiểm soát tác động đến lạm phát, tỷ giá, thị trường tài chính. Xây dựng lộ trình phát triển thị trường vốn, giảm dần phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.
Việc xác lập mô hình tăng trưởng mới, Ủy ban Kinh tế và Tài chính cho rằng, cần được cụ thể hóa bằng lộ trình rõ ràng, có trọng tâm, tránh dàn trải; đồng thời làm rõ các điều kiện nền tảng và xác định các ngành, lĩnh vực, vùng động lực ưu tiên để phân bổ nguồn lực hiệu quả. Một số ý kiến đề nghị bổ sung xây dựng Chương trình Năng suất quốc gia, Chiến lược quản lý rủi ro quốc gia và bộ tiêu chí đo lường đóng góp của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số vào tăng trưởng, làm cơ sở định hướng đầu tư, tránh dàn trải, lãng phí.
Cần có giải pháp căn cơ xử lý bài toán năng lượng, nút thắt lớn của tăng trưởng. Ủy ban Kinh tế và Tài chính nhấn mạnh, cần ưu tiên phát triển hạ tầng năng lượng, rà soát quy hoạch, đẩy nhanh các dự án trọng điểm; đồng thời hoàn thiện thị trường điện cạnh tranh, cơ chế giá linh hoạt, minh bạch để thu hút đầu tư và kiểm soát chi phí. Về dài hạn, đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu năng lượng theo hướng tự chủ, gắn với kinh tế xanh, tuần hoàn; phát triển năng lượng tái tạo theo hướng bền vững, tránh phát triển nóng, thiếu đồng bộ.
Hạ tầng là “điểm nghẽn” lớn cần ưu tiên tháo gỡ, trong đó tập trung vào các dự án chiến lược, có sức lan tỏa. Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị đầu tư công phải giữ vai trò dẫn dắt, cơ cấu lại theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Đẩy mạnh huy động khu vực tư nhân qua phương thức hợp tác công tư (PPP) minh bạch, chia sẻ rủi ro hợp lý; tăng cường liên kết vùng, phát huy các cực tăng trưởng và tổ chức lại không gian phát triển.
Ủy ban Kinh tế và Tài chính nhấn mạnh nâng cao năng lực điều hành và tổ chức thực thi là khâu then chốt, quyết định hiệu quả chính sách. Thực tiễn cho thấy nhiều hạn chế không nằm ở thiếu cơ chế mà ở khâu điều hành, triển khai thực hiện. Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị cần làm rõ cơ chế phân công, phối hợp, kiểm tra, giám sát; tăng cường kỷ luật, làm rõ trách nhiệm người đứng đầu, có cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm, bảo đảm thực thi minh bạch, hiệu quả, đúng mục tiêu.