Doanh nghiệp FDI ngày càng tham gia sâu vào thị trường in và bao bì Việt Nam với lợi thế về quản trị, công nghệ và khách hàng. Áp lực cạnh tranh, yêu cầu sản xuất xanh cùng tốc độ số hóa đang thúc doanh nghiệp trong nước nâng hiệu quả vận hành, đầu tư công nghệ và thay đổi cách sản xuất để giữ khách hàng, thị phần.
Sức ép trong chuỗi cung ứng
Tám tháng đầu năm 2026, hoạt động của các doanh nghiệp in chịu tác động từ xung đột tại Trung Đông và biến động thương mại quốc tế. Ngành vẫn ghi nhận mức tăng trưởng khoảng 6-8% so với năm trước. Theo ông Nguyễn Văn Dòng - Chủ tịch Hiệp hội In Việt Nam, tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành trong những năm gần đây ở mức trên dưới 10% mỗi năm. Mức tăng này được duy trì nhờ nhu cầu in ấn gắn chặt với hoạt động sản xuất. Thực phẩm, dược phẩm, điện tử, hàng tiêu dùng và xuất khẩu tiếp tục tạo ra lượng lớn đơn hàng bao bì, nhãn hàng. Khi khách hàng nâng yêu cầu về chất lượng, thời gian giao hàng, truy xuất nguồn gốc và an toàn sản phẩm, sức ép cũng chuyển dần sang năng lực tổ chức sản xuất của từng doanh nghiệp.
Thị trường hấp dẫn thêm nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Các nhà đầu tư này thường có lợi thế về vốn, quản trị, khách hàng và kinh nghiệm vận hành nhà máy. “Chi phí của phần lớn doanh nghiệp Việt Nam đang cao hơn doanh nghiệp FDI khoảng 15%. Nguyên nhân sâu xa là khả năng quản trị, điều hành doanh nghiệp chưa tốt như các doanh nghiệp có vốn FDI. Chuyển đổi số, tự động hóa còn chậm nên chi phí quản lý, điều hành cao hơn. Vấn đề quan trọng là hiệu quả sử dụng công nghệ và thiết bị đã đầu tư”, ông Dòng thông tin.
Theo ông Dòng, khoảng cách này cần được nhìn từ hiệu quả vận hành hơn là tuổi đời máy móc. Doanh nghiệp FDI vẫn sử dụng nhiều công nghệ phổ biến trong ngành, nhưng cách khai thác thiết bị, tổ chức lao động, quản lý vật tư và kiểm soát sản xuất tạo ra khác biệt về năng suất và giá thành.. Trong nước, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư máy móc có giá trị lớn. Tuy nhiên, việc kết nối dữ liệu giữa các khâu sản xuất, quản lý đơn hàng, nguyên liệu và năng suất còn chậm.
Tỷ lệ hao hụt vật tư, thời gian dừng máy, năng suất lao động đều ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm. Những hạn chế trong quản trị càng bộc lộ rõ khi doanh nghiệp phải cạnh tranh về giá và thời gian giao hàng. Máy móc đã được đầu tư nhưng nếu dữ liệu sản xuất chưa liên thông, năng suất và chi phí chưa được kiểm soát sát, lợi thế từ thiết bị cũng bị giảm đi. Doanh nghiệp trong nước cần thêm khoảng 3-5 năm để cải thiện rõ hơn năng lực quản trị, chuyển đổi số và hiệu quả vận hành. Đây cũng là giai đoạn cạnh tranh có thể quyết liệt hơn khi các doanh nghiệp FDI tiếp tục mở rộng sản xuất tại Việt Nam.
“Các doanh nghiệp Việt Nam đang phải gồng mình để cạnh tranh với doanh nghiệp FDI. Trong chuỗi cung ứng toàn cầu cũng như chuỗi cung ứng trong nước, doanh nghiệp có vốn FDI đang ngày càng chiếm ưu thế. Doanh nghiệp Việt Nam cần cải thiện nhanh quản trị, điều hành và hiệu quả sử dụng công nghệ để nâng sức cạnh tranh”, ông Dòng nhận định.
Chia sẻ về vấn đề này, ông Trần Việt Anh - Chủ tịch Hiệp hội Tái chế Việt Nam cho biết, hiện các nhà đầu tư nước ngoài trong ngành in đang tăng cường sự hiện diện tại Việt Nam. Những nhà đầu tư này thường mang theo khách hàng, thiết bị, nguyên liệu và công nghệ vào và vì vậy doanh nghiệp nội phải nâng năng lực sản xuất nhanh hơn để bảo vệ phần thị trường đang có.
Sự thay đổi thể hiện rõ nhất ở nhóm doanh nghiệp phục vụ xuất khẩu. Mỹ, châu Âu và nhiều thị trường lớn yêu cầu chặt chẽ hơn về quản lý chất lượng, môi trường, nguyên liệu và quy trình sản xuất. Muốn tiếp tục nhận đơn hàng, doanh nghiệp phải đáp ứng ngay từ khâu lựa chọn vật liệu và công nghệ in. Ông Nguyễn Văn Dòng cho biết một số doanh nghiệp lớn của Việt Nam đã áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế để đáp ứng yêu cầu từ khách hàng. Quá trình chuyển đổi của các doanh nghiệp còn khác nhau, phụ thuộc vào thị trường đang phục vụ và khả năng đầu tư.
“Muốn thâm nhập các thị trường khó tính như Mỹ, đặc biệt là châu Âu, doanh nghiệp phải tuân thủ các tiêu chuẩn về quản lý chất lượng, môi trường và sản xuất xanh. Doanh nghiệp Việt Nam hiện đã hiểu rất rõ yêu cầu này và đang tích cực chuyển đổi, ứng dụng những tiêu chuẩn quốc tế. Một số doanh nghiệp hàng đầu đã triển khai khá nhanh”, ông Dòng chia sẻ.
Chuyển đổi kéo theo khoản đầu tư đáng kể cho nguyên liệu, mực in, thiết bị và hệ thống kiểm soát. Theo ông Dòng, doanh nghiệp có thể thu hồi nguồn vốn này từ các hợp đồng mới và khả năng tham gia những thị trường có giá trị cao hơn. Vì vậy, quyết định đầu tư ngày càng gắn chặt với yêu cầu cụ thể của khách hàng.
Với sản phẩm in, yêu cầu môi trường còn liên quan trực tiếp đến mực, dung môi và khả năng tái chế sau sử dụng. Ông Trần Việt Anh cho biết in ấn hiện diện trên nhiều loại vật liệu như giấy, nhựa, polymer và kim loại. Mực cùng các thành phần tạo độ bám trên bề mặt ảnh hưởng đến chất lượng vật liệu khi tái chế.
Trong nhiều năm, sản phẩm sau in thường được nghiền để làm nguyên liệu cho những sản phẩm có yêu cầu thấp hơn. Hạn chế lớn nằm ở việc mực và hóa chất vẫn bám trên vật liệu, khiến khả năng tái sử dụng cho bao bì thực phẩm hoặc những sản phẩm đòi hỏi độ an toàn cao bị thu hẹp. Các công nghệ mới đã hướng tới mực gốc nước, mực có thành phần sinh học, mực an toàn và quy trình tách mực ra khỏi vật liệu. Một số nước phát triển đã sử dụng công nghệ này với bao bì giấy.
Việc thay đổi công nghệ vì thế không còn xuất phát riêng từ yêu cầu bảo vệ môi trường. Các thương hiệu lớn về thực phẩm, điện tử và hàng tiêu dùng đang đưa tiêu chuẩn về mực, nguyên liệu và khả năng tái chế vào yêu cầu đối với nhà cung cấp. “Dù là doanh nghiệp nhỏ và vừa hay doanh nghiệp lớn, khi khách hàng yêu cầu sử dụng mực an toàn, nguyên liệu phù hợp và sản phẩm sau sử dụng có thể tái chế thì doanh nghiệp phải đầu tư. Khó khăn lớn là tài chính vì thiết bị và nguyên liệu mới có giá cao. Cần có chính sách hỗ trợ, kích cầu đầu tư thiết bị hiện đại và từng bước loại các thế hệ máy, nguyên liệu cũ”, ông Việt Anh nói.
Chi phí đầu tư trở thành trở ngại lớn với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong khi đó, tốc độ thay đổi của khách hàng khiến doanh nghiệp khó trì hoãn lâu. Ông Việt Anh cho rằng cần có chính sách hỗ trợ vốn cho những dự án đổi mới thiết bị, đồng thời xây dựng định hướng phát triển dài hạn cho toàn ngành.
Theo ông, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số và tự động hóa sẽ làm thay đổi cách tổ chức nhà máy. Lao động trực tiếp giảm dần, thiết bị có năng suất cao hơn và nhiều khâu sản xuất được điều hành bằng dữ liệu.
“Ngành in Việt Nam cần có một chương trình riêng theo xu hướng trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số. Nhà máy in sẽ ngày càng nhỏ đi, sản lượng tăng lên, lao động ít đi vì phần lớn công việc chuyển sang công nghệ. Cùng với thiết bị, Việt Nam phải phát triển nguyên liệu in trong nước và công nghệ tái chế nguyên liệu sau sử dụng”, ông Việt Anh nhấn mạnh.
Cùng với tự động hóa, khả năng chủ động thiết bị và nguyên liệu được xem là yếu tố quan trọng cho bước phát triển tiếp theo. Phần lớn máy móc ngành in hiện còn phụ thuộc vào nhập khẩu. Theo ông Việt Anh, cơ khí và tự động hóa trong nước có thể tham gia sản xuất một phần thiết bị, linh kiện, từng bước nâng tỷ lệ nội địa hóa.
Mực in và các nguyên liệu liên quan cũng là lĩnh vực Việt Nam có khả năng phát triển. Chủ động nguồn nguyên liệu giúp doanh nghiệp kiểm soát tốt hơn chi phí, chất lượng và các yêu cầu về môi trường.
Ông Việt Anh cho rằng công nghệ in và công nghệ tái chế cần được phát triển đồng thời. Khi mực và các thành phần hóa học có thể tách khỏi sản phẩm sau sử dụng, giấy và những vật liệu khác sẽ có thêm khả năng quay lại sản xuất. Đây cũng là hướng giúp doanh nghiệp giảm nhu cầu nguyên liệu nhập khẩu trong dài hạn.
Tốc độ tăng trưởng hiện nay vẫn tạo dư địa cho doanh nghiệp in Việt Nam. Tuy nhiên, phần thị trường doanh nghiệp trong nước giữ được sẽ ngày càng phụ thuộc vào năng lực quản trị, số hóa nhà máy, công nghệ, nguyên liệu và khả năng đáp ứng những tiêu chuẩn mới của khách hàng. Sức ép từ FDI đang khiến quá trình chuyển đổi diễn ra nhanh hơn.
VietnamPrintPack 2026 diễn ra từ ngày 16 đến 19/9 tại Trung tâm Hội chợ và Triển lãm Sài Gòn (SECC), TP.HCM, với gần 800 gian hàng của 300 doanh nghiệp đến từ 13 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tổng diện tích trưng bày khoảng 16.000 m².
Các nhóm công nghệ tập trung vào in kỹ thuật số, dây chuyền đóng gói, xử lý bề mặt, nhãn thông minh, RFID và vật liệu phục vụ sản xuất xanh.
Ở mảng in kỹ thuật số có Ricoh Vietnam, FUJIFILM Business Innovation Vietnam, Epson Vietnam, Konica Minolta Business Solutions Vietnam, LBM Investment, Pulisi Technology, Guowang Group, Trung Mỹ Á, Desteel Technology, K-Print Digital cùng nhiều nhà cung cấp khác. Khu vực đóng gói giới thiệu các thiết bị cắt bế, tráng phủ, cán màng, in ngày sản xuất và dây chuyền đóng gói tự động. Công nghệ RFID phục vụ định danh, truy xuất nguồn gốc và quản lý chuỗi cung ứng cũng được giới thiệu tại triển lãm. Nhóm nguyên vật liệu có giấy, mực in gốc nước, keo dán, film và phôi nhôm thế hệ mới. Các sản phẩm hướng tới yêu cầu giảm tác động môi trường và tăng khả năng tái chế trong sản xuất bao bì.
Chuỗi hội thảo trong ba ngày đầu tập trung vào năng lực tạo giá trị của ngành in, bao bì bền vững, tự động hóa, AI và mô hình nhà máy bao bì đến năm 2030. Triển lãm mở cửa từ 9 giờ đến 17 giờ, ngày 19/9 kết thúc lúc 15 giờ.