Chưa rõ tình trạng cư trú, doanh nghiệp thực hiện khấu trừ 10% thuế TNCN cho lao động thời vụ có đúng không?
Chi trả hơn 266 triệu đồng cho lao động thời vụ nhưng không đủ thông tin về tình trạng cư trú, doanh nghiệp thực hiện khấu trừ 10% thuế TNCN có đúng quy định không?
Hỏi:
Công ty chúng tôi phát sinh chi trả thu nhập cho người lao động làm việc theo hình thức thời vụ/part-time. Căn cứ quy định về thuế thu nhập cá nhân: - Đối với cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc hợp đồng lao động dưới 03 tháng: khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi chi trả. - Đối với cá nhân không cư trú: khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 20% trên thu nhập trước khi chi trả.
Trong năm 2025, Công ty có phát sinh: - Tổng thu nhập chi trả cho nhân viên part-time: 266.345.553 đồng - Số thuế TNCN đã khấu trừ tại nguồn (10%): 26.634.553 đồng - Số thuế này Công ty đã kê khai và nộp đầy đủ vào Ngân sách Nhà nước. Tại thời điểm chi trả thu nhập, do đặc thù lao động thời vụ, ngắn hạn, Công ty chưa thu thập đầy đủ thông tin để xác định chính xác tình trạng cư trú của cá nhân theo quy định.
Trên cơ sở thông tin hiện có tại thời điểm chi trả và nhằm thực hiện nghĩa vụ khấu trừ thuế tại nguồn, Công ty đã thực hiện khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% trước khi chi trả thu nhập. Để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ thuế phù hợp với thực tế và quy định hiện hành, Công ty kính đề nghị cơ quan chức năng hướng dẫn:
1. Trường hợp tại thời điểm chi trả thu nhập, Công ty chưa có đủ căn cứ xác định tình trạng cư trú của cá nhân, việc thực hiện khấu trừ 10% trên thu nhập trước khi chi trả như trên có được xem là phù hợp với nguyên tắc khấu trừ thuế tại nguồn theo thông tin thực tế tại thời điểm phát sinh hay không?
2. Trường hợp sau đó cơ quan có thẩm quyền xác định cá nhân thuộc đối tượng không cư trú, đề nghị hướng dẫn cách xác định nghĩa vụ thuế đối với khoản thu nhập đã chi trả trong bối cảnh Công ty đã thực hiện khấu trừ, kê khai và nộp thuế theo tỷ lệ 10% tại thời điểm chi trả.
Trả lời:
- Căn cứ Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15/08/2013 của Bộ Tài Chính quy định:
+ Tại khoản 1, khoản 2 Điều 1 quy định về Người nộp thuế:
“1. Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây: a) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam, trong đó ngày đến và ngày đi được tính là một (01) ngày. Ngày đến và ngày đi được căn cứ vào chứng thực của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh trên hộ chiếu (hoặc giấy thông hành) của cá nhân khi đến và khi rời Việt Nam. Trường hợp nhập cảnh và xuất cảnh trong cùng một ngày thì được tính chung là một ngày cư trú.
Cá nhân có mặt tại Việt Nam theo hướng dẫn tại điểm này là sự hiện diện của cá nhân đó trên lãnh thổ Việt Nam.
b) Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo một trong hai trường hợp sau: b.1) Có nơi ở thường xuyên theo quy định của pháp luật về cư trú: b.1.1) Đối với công dân Việt Nam: nơi ở thường xuyên là nơi cá nhân sinh sống thường xuyên, ổn định không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú theo quy định của pháp luật về cư trú. b.1.2) Đối với người nước ngoài: nơi ở thường xuyên là nơi ở thường trú ghi trong Thẻ thường trú hoặc nơi ở tạm trú khi đăng ký cấp Thẻ tạm trú do cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Công an cấp.
b.2) Có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở, với thời hạn của các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế, cụ thể như sau:”
b.2.1) Cá nhân chưa hoặc không có nơi ở thường xuyên theo hướng dẫn tại điểm b.1, khoản 1, Điều này nhưng có tổng số ngày thuê nhà để ở theo các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế cũng được xác định là cá nhân cư trú, kể cả trường hợp thuê nhà ở nhiều nơi.
b.2.2) Nhà thuê để ở bao gồm cả trường hợp ở khách sạn, ở nhà khách, nhà nghỉ, nhà trọ, ở nơi làm việc, ở trụ sở cơ quan,... không phân biệt cá nhân tự thuê hay người sử dụng lao động thuê cho người lao động.
Trường hợp cá nhân có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo quy định tại khoản này nhưng thực tế có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm tính thuế mà cá nhân không chứng minh được là cá nhân cư trú của nước nào thì cá nhân đó là cá nhân cư trú tại Việt Nam.
Việc chứng minh là đối tượng cư trú của nước khác được căn cứ vào Giấy chứng nhận cư trú. Trường hợp cá nhân thuộc nước hoặc vùng lãnh thổ đã ký kết Hiệp định thuế với Việt Nam không có quy định cấp Giấy chứng nhận cư trú thì cá nhân cung cấp bản chụp Hộ chiếu để chứng minh thời gian cư trú.
2. Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng điều kiện nêu tại khoản 1, Điều này...
+ Tại khoản 1 Điều 18 quy định:
“Điều 18. Đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công
Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân không cư trú được xác định bằng thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công nhân (×) với thuế suất 20%. ...”
+ Tại điểm i khoản 1 Điều 25 quy định về khấu trừ thuế:
“Điều 25. Khấu trừ thuế và chứng từ khấu trừ thuế...
i) Khấu trừ thuế đối với một số trường hợp khác...”
Các tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động (theo hướng dẫn tại điểm c, d, khoản 2, Điều 2 Thông tư này) hoặc ký hợp đồng lao động dưới ba (03) tháng có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân.
Căn cứ các quy định trên, Trường hợp tại thời điểm chi trả thu nhập Công ty chưa có đủ thông tin để xác định tình trạng cư trú của cá nhân, Công ty tạm thời thực hiện khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% trên cơ sở thông tin thực tế tại thời điểm chi trả là không phù hợp với nguyên tắc khấu trừ thuế tại nguồn.
Trường hợp tại thời điểm chi trả thu nhập công ty đã thực hiện khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập cho cá nhân, sau đó cơ quan có thẩm quyền xác định cá nhân là cá nhân không cư trú thì cơ quan có thẩm quyền sẽ xử lý theo quy định.